Tìm hiểu Bệnh ung thư cổ tử cung vú dạ dày tuyến giáp các loại máu trắng phổi u viêm gan B A xơ gan cổ trướng bạch cầu nguyên phát phòng chống phụ nữ đàn ông con trai gái trẻ con nhỏ người lớn già phương pháp là gì tại vì làm sao thế nào lý do giải thích hỏi đáp bệnh lý học bác sĩ lời khuyên hỏi đáp thuốc thầy lang đông tây nam bắc y khám chữa soi nguy cơ phát hiện sớm muộn kéo dài sự sống đã có thể chữa được chưa y học thế giới mới nhất có chữa điều trị được hay không những điều cần nên biết tránh kiêng hướng dẫn những các cách king nghiệm triệu chứng biểu hiện có nguy hiểm tử vong chết sống ăn uống dinh dưỡng độ tuổi giai đoạn cuối hủy diệt thuốc lá rượu bia chất kích thích tăng giảm, nơi địa điểm thày thuốc hình ảnh video clip

 Ung Thư Tổng Hợp


Ung thư gan

Hơn 16.000 người bị ung thư gan mỗi năm ở Hoa kỳ. Nguyên nhân chính xác của ung thư gan chưa được biết rõ , nhưng viêm gan mãn tính và xơ gan là yếu tố nguy cơ ung thư gan.

Các loại ung thư gan:

*Ung thư tế bào gan nguyên phát:


Trên 80% ung thư gan là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư này xảy ra ở nam gấp đôi nữ và thường gặp ở tuổi trên 50 . Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân HCC nhưng viêm gan do siêu vi mãn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ HCC. Xơ gan chiếm 80% truờng hợp HCC. Dạng khác của ung thư gan là ung thư đường mật. Đây là ung thư xuất phát từ ống dẫn mật và nguyên nhân là do viêm xơ chai đường mật nguyên phát.Ung thư đường mật có thể do nhiễm ký sinh trùng , chẳng hạn như sán lá nhỏ. Ung thư này phát triển theo đường dẫn mật , rất khó thấy trên phim X quang.

*Ung thư di căn gan:


Ung thư xuất phát từ tế bào của các phần khác của cơ thể lan đến gan . Ung thư di căn gan có thể từ: ung thư đường tiêu hóa, vú , phổi, ung thư tủy…..Tùy theo cơ quan nào di căn đến gan mà gọi tên , ví dụ từ ung thư phổi thì gọi là ung thư gan thứ phát do di căn từ ung thư phổi.

Triệu chứng của ung thư gan?

Triệu chứng của ung thư gan gồm: mệt , sốt , đau bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, ăn không ngon , dễ chảy máu hay dễ có vết bầm, vàng da, báng bụng.

Ung thư gan được chẩn đoán như thế nào?

Ung thư gan có thể được phát hiện qua cuộc kiểm tra sức khỏe định kỳ. Bác sĩ có thể sờ thấy khối u lớn và cứng trong bụng.
Xét nghiệm máu AFP (alpha fetoprotein). 50---70% người ung thư gan có AFP trong máu cao. AFP cao có thể nghĩ đến ung thư gan nhưng không thể là yếu tố quyết định chắc chắn. Sau khi thấy AFP cao nên làm siêu âm , chụp cắt lớp điện toán (CT) , chụp cộng hưởng từ (MRI), chúng ta sẽ thấy khối u , tuy nhiên chưa xác định chắc chắn u lành tính hay ác tính. Để chẩn đoán chính xác lành hay ác ,phải sinh thiết gan .

Nguyên nhân gây ung thư gan

Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân ung thư gan . Tuy nhiên có nhiều yếu tố thuận lợi giúp phát triển ung thư gan, bao gom cả tuổi, phái tính, gia đình. Phái nam bị ung thư nhiều hơn nữ và tỉ lệ tăng dần sau 60 . Những người trong gia đình có nhiều người bị ung thư gan cũng dễ có nguy cơ phát triển ung thư gan.

*Những yếu tố nguy cơ:

- Nhiễm virus viêm gan B , C mãn tính: gây nên viêm gan , xơ gan và phát triển thành ung thư gan. Khoảng 25% những người u gan ở Mỹ có nhiễm siêu vi B. Những người có nguy cơ nhiễm siêu vi C nên được xét nghiệm máu để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời , như vậy giúp ngăn ngừa xơ gan và nguy cơ ung thư gan.
- Xơ gan: nguy cơ đưa đến ung thư gan rất lớn. Hơn 80% trường hợp u gan có xơ gan .Uống rượu là nguyên nhân dẫn đến xơ gan nhiều ở Mỹ.
- Bệnh gan ứ sắt: Sự quá tải sắt ở gan. Đây là bệnh di truyền gây rối loạn chuyển hóa sắt. Sự quá tải sắt gây độc cho cơ thể đặc biệt ở gan , gây viêm và chết tế bào gan. Điều này dẫn đến xơ gan và nguy cơ rất cao đưa đến ung thư gan.
- Hút thuốc: đây cũng là yếu tố nguy cơ ung thư gan. Trong khi mối liên quan giữa thuốc lá và ung thư gan chưa được biết rõ ràng , Tổ chức gan mật Hoa Kỳ khuyên mọi người nên ngừng hút thuốc . Lượng thuốc hút mỗi ngày càng nhiều , thời gian hút thuốc càng lâu càng làm tăng nguy cơ ung thư gan.
- Một số hóa chất có nguy cơ gây ung thư gan: vinyl chloride dùng chế plastic, arsenic nhiễm trong nước uống…….
- Lạm dụng thuốc steroid thường xuyên cũng là yếu tố nguy cơ


Tiên lượng cho bệnh nhân ung thư gan?


Tiên lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm yếu tố khối u có được chẩn đoán sớm không? Nếu khối u nhỏ có thể điều trị bằng phẫu thuật, tuy nhiên tỉ lệ thành công của phẫu thuật 10----20% . Nếu phẫu thuật không thành công bệnh nhân tử vong trong vòng 3 đến 6 tháng . Tiên lượng ung thư di căn gan rất xấu.


Ung thư gan được điều trị như thế nào

Điều trị ung thư gan rất khó khăn . Triệu chứng ung thư gan thì khó nhận biết chỉ đến khi khối u phát triển nhiều , vì vậy việc phát hiện thường là trễ. Những yếu tố nguy cơ khác như xơ gan , làm cho việc điều trị phẫu thuật khó khăn.
Phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u nhỏ , nếu cả khối u được cắt bỏ , khả năng sống còn của bệnh nhân 25%. Tuy nhiên thưiờng rất hiếm thành công vì thường phần lớn gan đã bị xơ.
Ghép gan thì có thể , tuy nhiên nếu ung thư đã di căn thì không thể áp dụng được.
Hóa trị và xạ trị thì hiệu quả rất hạn chế
Một kỹ thuật mới (SIRT) phướng pháp dùng tia xạ chọn lọc với tần số cao đánh trực tiếp vào khối u mà không làm tổn thương mô xung quanh . Thử nghiệm lâm sàng cho thấy SIRT có thể cải thiện triệu chứng và kéo dài sự sống cho bệnh nhân.
Kỹ thuật đông lạnh bằng hóa chất : dùng catheter bơm hóa chất và thuốc doxorubicin vào khối u cũng hứa hẹn nhiều thành công tốt đẹp.

Ung thư gan có thể được ngăn ngừa?



Phòng bệnh là phương pháp tốt nhất chống ung thư gan. Phải nỗ lực làm giảm xơ gan , phát hiện sớm và điều trị viêm gan siêu vi mãn tính. Các thuốc điều trị viêm gan virus mãn tính , thuốc chống siêu vi cũng có thể làm giảm tỉ lệ ung thư gan.

Vaccin chống siêu vi A , B rất cần thiết , đặc biệt với người viêm gan C . Không nên uống rượu. Phải khám sức khỏe định kỳ những người có nguy cơ nhằm phát hiện ung thư gan sớm.


1. Tỉ lệ bị viêm gan B và C ở người Việt và châu Á rất cao. Viêm gan B là 16% và viêm gan C là 10%. Có thể còn cao hơn vì nhiều người không đi thử.

2. Đàn ông Việt Nam có tỉ lệ bị ung thư gan cao gấp 13 lần người Mỹ trắng (người gốc Đại Hàn gấp 8 lần và người gốc Hoa gấp 6 lần).

3. Nguyên nhân chính gây ra ung thư gan ở người Á châu là viêm gan B. Với viêm gan B, người có bệnh có thể bị ung thư gan khi gan chưa bị chai và ngay cả khi thử máu không thấy có dấu hiệu siêu vi B đang hoạt động.

4. Viêm gan B cũng gây ra cái chết vì chai gan hay viêm gan cấp tính.

5. Những người bị nhiễm viêm gan B khi còn thơ ấu hay lúc lọt lòng mẹ, có tỉ lệ bị ung thư gan rất cao, đến 40% và có thể ở tuổi trẻ.

6. Hiện thời có thuốc để chữa viêm gan B. Tuy nhiên hiệu quả chữa lành của các thuốc này còn thấp, chỉ dưới 20%. Do đó khoa học tiếp tục nghiên cứu nhiều thuốc mới đang được thí nghiệm.

7. Tiêm phòng viêm gan B nếu chưa bị mắc bệnh là cách tốt nhất để ngừa chứng hư gan vì siêu vi B và ung thư gan.

8. Các trẻ em sinh ở Mỹ trong vòng 20 năm qua đều đã được tiêm phòng viêm gan B. Ngoài ra trẻ em vào lớp 7 cũng phải được tiêm phòng siêu vi B. Tuy nhiên, còn rất nhiều trẻ em chưa được tiêm phòng.

9. Viêm gan C thường mạn tính và thường 20 - 30 năm sau mới gây ra bệnh nặng như chai gan, ung thư hay hư gan.

10. Người bị viêm gan C cũng dễ bị ung thư gan, nhưng thường thì phải bị chai gan trước khi trở thành ung thư gan.

11. Cũng có thuốc chữa bệnh viêm gan C, phải dùng cả thuốc uống và thuốc tiêm và cơ hội chữa bệnh khoảng 50%.

12. Chưa có thuốc tiêm phòng cho viêm gan C.

13. Cả viêm gan B và C đều truyền qua sự đụng chạm về máu như truyền máu, sử dụng kim tiêm, dùng dao cạo râu, bàn chải đánh răng... của người bệnh. Sự giao hợp nam nữ cũng có thể làm lây bệnh viêm gan B và C từ người này qua người khác. Truyền máu ở nước Mỹ rất an toàn trong vấn đề này vì tất cả máu đều đã được thử siêu vi viêm gan B, C và HIV.

14. Ăn cùng mâm cùng bát đũa không bị lây viêm gan B hay C, nhưng có thể làm lây viêm gan A là một loại viêm gan nhẹ và thường không gây những hậu quả tai hại về sau. Tuy nhiên, nếu bị lây bệnh này sau khi đã bị viêm gan B hay C thì gan có thể sẽ bị yếu đi gây thêm thương tích cho gan.

15. Uống rượu khi đã bị viêm gan B hay C có thể càng làm gan yếu hơn, gia tăng cơ hội bị chai gan hơn và gia tăng cơ hội bị ung thư gan hơn. Vì vậy, nếu muốn uống rượu, chỉ nên uống vừa phải nếu gan tốt và không bị nhiễm siêu vi B hoặc C hay một bệnh gan nào khác. Nếu bị bệnh gan, nhất là bị siêu vi B hay C, tuyệt đối không nên uống rượu. Nguyên nhân gây chai gan và ung thư gan nhiều nhất cho những người không bị siêu vi gan B hay C là do uống nhiều rượu.

Những điều nên làm để phòng ngừa

16. Mọi người nên thử máu để xem có bị viêm gan B hay C không? Ngoài ra cũng nên thử xem đã miễn nhiễm viêm gan A và B hay chưa? Xin hỏi bác sĩ để thử ngay nếu chưa thử bao giờ.

17. Nếu kết quả thử máu có Hepatitis B surface antigen HBsAg (dương tính) (positive), cần thử lại sáu tháng sau. Nếu vẫn dương tính, tức là đã bị viêm gan B.

18. Trong trường hợp viêm gan B cần theo dõi chức năng gan, lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu mỗi sáu tháng, siêu âm gan mỗi một năm để truy tầm ung thư gan. Cũng nên gặp bác sĩ chuyên môn về gan để xem có cần chữa bệnh viêm gan B hay chưa?

19. Nếu không có HBsAg (âm tính), tức là chưa mắc bệnh, thì phải xem Hepatitis B surface antibody tức HbsAb xem có đủ cao hay không? Nếu trên 10, có nghĩa là đã được miễn nhiễm. Nếu âm tính hay thấp hơn 10, cần được tiêm phòng viêm gan B.

20. Với viêm gan C, nếu có Hepatitis C antibody tức HCV Ab dương tính, có thể đã bị viêm gan C, chứ không có nghĩa là đã được miễn nhiễm đâu. Nên gặp bác sĩ chuyên khoa gan ngay để thử nghiệm xem lượng vi khuẩn có cao không, chức năng gan còn tốt không và có phải chữa trị hay không?

21. Nếu đã bị chai gan vì bất cứ lí do nào, cần được theo dõi kĩ, được truy tầm ung thư gan với lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu sáu tháng/ lần và siêu âm gan mỗi năm một lần dù cho không thấy có triệu chứng gì cả.

22. Nếu máu không có lượng kháng thể IGG hay Total Antibody của viêm gan A, thì chưa miễn nhiễm viêm gan A, nên nghĩ đến chuyện tiêm phòng, nhất là người đã bị viêm gan B hay C, để bảo vệ gan không bị hư hại thêm trong trường hợp nhiễm thêm viêm gan A. Cũng nên tiêm phòng nếu đi đến vùng có dịch.

23. Nên nhớ chưa có thuốc tiêm phòng viêm gan C. Do đó, nếu đã miễn nhiễm siêu vi A và B vẫn có thể bị nhiễm siêu vi C. Tránh những hành động có thể gây ra sự truyền nhiễm qua đường máu từ người này qua người khác như dùng kim tiêm, bàn chải đánh răng, dao cạo râu chung. Hãy dùng kim mới để tiêm, châm cứu, hay lễ giác, dùng đồng xu mới và riêng cho từng người để cạo gió.

24. Hãy sử dụng bao cao su khi giao hợp hay các biện pháp an toàn khác như tránh quan hệ tình dục với nhiều người.

25. Tránh uống rượu. Nếu đã bị viêm gan B hay C rồi thì tuyệt đối không uống rượu, bia.




Ung thư dạ dày.

Là ung thư đứng hàng đầu trong các loại ung thư đường tiêu hóa.
I. Giải phẫu bệnh lý:



Ung thư dạ dày có thể ở tất cả các vùng của dạ dày, và hay gặp nhất là vùng hang – môn vị.
1. Đại thể:

a. Ung thư thể sùi. Khối u mọc nụ sùi vào trong lòng dạ dày nhìn giống như hoa súp lơ và có loét ở giữa do hoại tử.

b. Thể thâm nhiễm. Khối u chiếm một đoạn dạ đay và làm nhiễm cứng đoạn dạ dày, cũng có khi thâm nhiễm ra làm nhiễm cứng toàn bộ dạ dày.

c. Thể loét. Ổ loét to, bờ không đều, cứng và xù xì, đáy gồ gề dễ chảy máu, bờ nổi cao có thể có những nụ thịt nhỏ.
2. Vi thể

Ung thư biểu môn tuyến: Hay gặp nhất , từ 85 – 95 %

Sarcoma dạ dày: chiếm từ 1 – 5 % , là u phát sinh từ tổ chức liên kết.

3. Tiến triển và di căn:

a. Ung thư dạ dày sớm: tổn thương mới chỉ ở lớp niêm mạc, dưới niêm mạc, có hay không có hạch lân cận di căn. Và có tiên lượng tốt.

b. Các giai đoạn:

Giai đoạn A: Ung thư xân lấn đến lớp cơtrong của thành dạ dày.

Giai đoạn B: Ung thư xâm lấn cả thành dạ dày

Giai đoạn C: Hạch lân cận bị di căn.

Giai đoạn D: Xâm lấn và di căn tới các hạch tạng.

c. Di căn.

Di căn gần theo hạch

Di căn xa theo bạch huyết, mạch máu: lưu ý hạch thượng đòn trái, xuống buồng trứng U Krukenberg.




II. Triệu chứng.
1. Lâm sàng
a. Giai đoạn sớm:

Giai đoạn này tc LS nghèo nàn, khó phát hiện

Đau thượng vị không có tính chu kỳ ( khác với loét )

Chán ăn

Mệt mỏi, gầy sút
b. Giai đoạn muộn:

Các triệu chứng thường rõ: đau bụng, hẹp môn vị, khối u vùng bụng, cổ trướng, hạch di căn. Chẩn đoạn giai đoạn này thường dễ song điều trị ít có kết quả.
2. Cận lân sàng:
a. X Quang có cản quang:

Ung thư thể loét: hình ổ loét, bờ cứng, có thể kết hợp chụp đối quang kép với ung thư mặt dạ dày.

Ung thư thể sùi: hình khuyết cố định, bờ xung quanh không đều, nham nhở, thành cứng.

Ung thư thể thâm nhiễm: hình cứng hay một đoạn cứng thường xuyên giữa các phim.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Hình ảnh K hang vị

b. Nội soi + sinh thiết:

Là phương pháp có giá trị giúp chẩn đoán sớm UTDD, có thể thấy hình ổ loét, u sùi nhỏ. Tỷ lệ chẩn đoán đúng cao. Nên lấy sinh thiết nhiều vị trí để đảm bao không bỏ sót tổn thương.
III. Chẩn đoán.

Dựa vào lân sàng và cận LS

Chẩn đoán phân biêt giữa loét và ung thư dạ dày: Có thể dùng phương pháp điều trị thử trong 4 – 6 tuần, kiểm tra lại băng nội soi

Phân biệt ung thư thể loét và loét ung thư hóa: Ung thư thể loét, tổ chưc ung thư thấy ở phần đáy, ngược lại trong loét ung thư hóa thì tổ chức ung thư hóa tổn thương thấy ở bờ ổ loét.
IV. Điều trị.
1. Ngoại khoa.
a. Triệt để:

- Cắt bỏ toàn bộ dạ dày: bất kỳ khối u ở vị trí nào cũng cắt bỏ toàn bộ dạ dày.

Cắt toàn bộ dạ dày theo yêu cầu: tùy vị trí khối u mà cắt toàn bộ dạ dày.

Nối phục hồi lưu thông: Thực quản – Hỗng tràng kiểu Omega hay kiểu chữ Y.

- Cắt đoạn dạ dày: cắt ¾ hoặc 4/5 dưới tâm vị.

Áp dụng cho các khối u vùng hang môn vị. Phía trên cắt trên khối u 6cm phía dưới cắt dưới môn vi 1-2cm.

- Cắt cực trên dạ dày: Cắt bỏ 1/3, ½ dạ dày phía trên, phần cuối thực quản bụng, nối thực quản với dạ dày còn lại.
b. Điều trị tạm thời:

Nối vị tràng nếu không cắt được và có hẹp môn vị.

Mở thông dạ dày cho ăn nếu hẹp tâm vị

Thắt các mạch máu xung quanh u.
2. Các pp điều trị khác.

Chiếu xạ: dùng phối hợp với hóa chất.

Hóa chất: 5 Fluorouracil, Adriamycin, Mitomycin C …





Dấu hiệu nhận biết ung thư dạ dày
Ung thư dạ dày là một căn bệnh nguy hiểm tuy nhiên không dễ dàng nhận ra những biểu hiệu đáng ngờ. Cũng chính vì lý do này mà rất nhiều bệnh nhân đã đến viện muộn và các bác sỹ không thể giúp họ kéo dài cuộc sống.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ảnh minh họa

Các chuyên gia sẽ giúp chúng ta hiểu được căn bệnh này và những dấu hiệu của nó.

1. Nguyên nhân gây bệnh


Trong các nguyên nhân dẫn tới căn bệnh ung thư dạ dày, thực phẩm là nguyên nhân hàng đầu. Các chuyên gia nhấn mạnh chế độ ăn quá nhiều thịt, cá hun khói hoặc cá muối sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày.

Tiếp đến là thuốc lá, nguyên nhân của rất nhiều căn bệnh ung thư, trong đó có ung thư dạ dày.

Theo thời gian, dạ dày của chúng ta sẽ xuất hiện những nốt viêm mãn tính do vi khuẩn có tên Helicobacter pylori gây ra. Và đây chính là tiền đề của bệnh ung thư dạ dày.

Triệu chứng


Do nhầm lẫn với dấu hiệu của một số căn bệnh khác, người mắc bệnh ung thư dạ dày thường đến bệnh viện khi đã ở giai đoạn cuối.


Hãy đến ngày bệnh viện khi bạn thấy những dấu hiệu dưới đây :

- Đau vùng dạ dày

- Ăn không ngon miệng

- Buồn nôn

- Nôn

- Cảm giác mệt mỏi

- Giảm cân

- Thiếu máu

Khi đến khám tại bệnh viện, bệnh nhân sẽ được chỉ định nội soi dạ dày. Phương pháp này giúp cho bác sỹ nhìn thấy tường tận những nốt viêm nhiễm bên trong, sự lây lan của nó và các khối u. Tiếp đó, các bác sỹ sẽ sinh thiết tế bào dạ dày để xác định đúng căn bệnh.

Điều trị

Nếu được phát hiện sớm, việc mổ cắt bỏ khối u dạ dày sẽ giúp cho bệnh nhân kéo dài  cuộc sống vài năm. Ngoài ra, các biện pháp khác đi kèm trong quá trình điều trị là trị xạ, truyền hoá chất,...





Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.

Ung thư dạ dày là gì?

Ung thư là bệnh của các tế bào cơ thể. Bình thường các tế bào trong cơ thể phân chia theo trình tự nhất định. Tuy nhiên đôi khi vài tế bào phân chia bất thường và phát triển thành khối u. Khối u có thể là lành tính (không phải là ung thư) hoặc là ác tính (là ung thư).

Khối u ác tính gồm các tế bào ung thư. Nếu không được điều trị, các tế bào này sẽ xâm lấn và phá hủy các mô xung quanh. Các tế bào ung thư thường tách khỏi ung thư ban đầu và đến các cơ quan khác. Khi những tế bào này đến vị trí mới, chúng tiếp tục phát triển thành khối u, khối u này được gọi là di căn. Ung thư dạ dày hay đi theo đường hệ thống bạch mạch để đến các bộ phận khác của cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh

Các nguyên nhân gây ung thư dạ dày vẫn chưa được biết chính xác. Ở những người có tiền sử loét dạ dày và từng bị thiếu máu ác tính thì có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày.

Triệu chứng thường không đặc hiệu

Các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Để chẩn đoán bệnh cần làm  gì?

- Bác sĩ hỏi bệnh và khám bệnh kĩ càng.

- Chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang.

- Nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

- Khi một người bệnh được chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm nữa để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác. Điều này giúp cho bác sĩ đưa ra cách điều trị tốt nhất. Đó là các xét nghiệm chụp cắt lớp vi tính và siêu âm.

Các phương pháp điều trị

Ung thư dạ dày có thể được điều trị bằng các phương pháp: phẫu thuật, hóa trị liệu và tia xạ.

Phẫu thuật:

Phương pháp điều trị đầu tiên và chủ yếu đối với các ung thư dạ dày giai đoạn sớm là phẫu thuật: cắt bỏ một phần hay toàn bộ dạ dày. Sau 5 ngày bệnh nhân đã có thể uống và ăn trở lại. Sau phẫu thuật 10-14 ngày, bệnh nhân có thể ra viện.

Những trường hợp ung thư giai đoạn cuối có thể: Phẫu thuật tạm thời, nhằm lập lại lưu thông của đường tiêu hóa, kéo dài cuộc sống cho người bệnh.

Hóa chất trị liệu:

Đây là phương pháp điều trị bằng các thuốc chống ung thư đặc biệt. Các thuốc này thường được dùng phối hợp với nhau trong một tuần, sau đó nghỉ thuốc 2 hoặc 3 tuần rồi lại dùng tiếp. Nếu ung thư ở giai đoạn sớm, hóa trị liệu dùng để hỗ trợ cho phẫu thuật, tia xạ hoặc cả hai, nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể để tránh tái phát ung thư dạ dày sau này.

Hóa trị liệu sẽ có một số tác dụng phụ nhưng các tác dụng phụ này là tạm thời và có thể làm giảm được.

Điều trị bằng tia xạ:

Biện pháp này dùng các tia phóng xạ để diệt các tế bào ung thư. Các tia phóng xạ này được tính toán chính xác trên vị trí của ung thư để giảm tác hại đối với các mô lành. Trong ung thư dạ dày, điều trị bằng tia xạ sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Điều trị bằng tia xạ có thể được dùng cùng với hóa chất trị liệu để làm nhỏ khối u và làm giảm các triệu chứng.

Nhật Bản là nước có tỉ lệ ung thư dạ dày cao trên thế giới, đã thành công trong chương trình phát hiện sớm để phẫu thuật có hiệu quả cao, đạt tới 80% số bệnh nhân sống sau 5 năm. Cả thế giới công nhận và áp dụng kĩ thuật đó. Việt Nam cũng là nước có tỉ lệ mắc cao, cần thiết phải hiểu biết để có sự quan tâm thích đáng tới bệnh ung thư dạ dày.

Chương trình Phòng chống bệnh ung thư Quốc gia - Bệnh viện K - Bộ Y tế





Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong những bệnh nhân ung thư ở nam giới. Ở Việt Nam theo số liệu ghi nhận tại một số vùng ung thư phổi đứng hàng đầu và chiếm 20% trong tổng số hàng trăm loại ung thư.

Các triệu chứng nhận biết

Triệu chứng hay gặp nhất của ung thư phổi là ho kéo dài. Thở ngắn, ho có đờm lẫn máu và đau ngực cũng có thể là dấu hiệu chỉ điểm của ung thư phổi. Một thời gian sau bệnh nhân có thể gầy sút, mệt mỏi, thở nông, khàn giọng, khó nuốt, đau xương, thở khò khè và tràn dịch màng phổi.

Cần chú ý rằng có khoảng 13% bệnh nhân không biểu hiện bất cứ một triệu chứng nào như trên khi khối u của họ được phát hiện.





Phương pháp phát hiện

Có nhiều kỹ thuật được sử dụng để phát hiện ung thư phổi. Ung thư phổi thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp Xquang lồng ngực. Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có thể xác định chính xác hơn vị trí của khối u, kích thước và biết được khối u đã phát triển ra ngoài phổi hay chưa. Có thể chẩn đoán bằng cách sinh thiết, phương pháp sinh thiết thông thường nhất là dùng ống nội soi phế quản. Đưa một ống nhỏ, mềm, dẻo qua mũi hay miệng sau khi đã gây tê, đi qua khí quản vào phổi. Phương pháp này được sử dụng trên 80% bệnh nhân và 2/3 có kết quả sinh thiết dương tính. Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư chỉ có 1/3 số ca có kết quả dương tính. Nếu khối u ở rìa phổi hay ở xa phế quản thì nội soi phế quản hay xét nghiệm đờm có thể không phát hiện được. Hoặc dùng một kim nhỏ xuyên qua thành ngực vào vùng bất thường sau khi đã gây tê tại chỗ. Phương pháp này chẩn đoán được trên 90% bệnh nhân. Đôi khi cần thiết phải tiến hành sinh thiết thêm nếu các phương pháp trên không thành công. Những mẫu sinh thiết lấy được, được nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

Những nguyên nhân gây ung thư phổi

Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.

Những công nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.

Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.

Tiếp xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.

Ngoài ra,  nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí. Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.

Các phương pháp điều trị


Phẫu thuật loại bỏ khối u:

Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn. Bệnh nhân có thể trạng tốt để phẫu thuật. 20% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời gian sống thêm lâu dài.

Điều trị tia xạ:

Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn. Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u. Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi chữa khỏi bệnh.

Điều trị bằng hóa chất:

Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và đôi khi ở những loại ung thư phổi khác. Những tiến bộ gần đây về hóa trị liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.

Điều trị hỗ trợ:

Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.

Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân.

Ở hầu hết các bệnh nhân ung thư, kết quả điều trị tốt nhất khi ung thư được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mới bao gồm đưa chất đồng vị phóng xạ vào phế quản, điều trị bằng tia xạ, điều trị bằng laser, các thuốc hóa chất mới, những nghiên cứu sinh học phân tử đang được tiến hành và đã thu được một số kết quả.



Có thể tiến hành riêng lẻ hoặc phối hợp phương pháp phẫu thuật, xạ trị và hoá trị để điều trị ung thư phổi.
   * Lên kế hoạch điều trị
   * Ung thư tế bào nhỏ
   * Ung thư tế bào lớn (không nhỏ)
   * Thoả thuận đồng ư điều trị
   * Lợi và hại của phương pháp điều trị
   * Ư kiến khác

LÊN KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ


Bác sỹ sẽ lên kế hoạch điều trị cho bạn sau khi cân nhắc một số yếu tố trong đó có:

   * T́ình trạng sức khoẻ của bạn
   * Loại ung thư (tế bào nhỏ hoặc tế bào không nhỏ) và kích cỡ khối u
   * Ung thư đă lây lan ra ngoài phổi chưa (giai đoạn) .

Bạn có thể thấy bệnh nhân khác trong bệnh viện áp dụng phương pháp điều trị không giống bạn. Điều này v́ bệnh của họ thuộc loại khác và nhu cầu bản thân họ khác với bạn. Nếu bạn có bất cứ câu hỏi nào về việc điều trị, đừng ngại hỏi bác sỹ hoặc y tá đang chăm sóc cho bạn. Tốt nhất bạn nên chuẩn bị trước các câu hỏi sẽ hỏi bác sỹ, và có bạn thân hoặc người nhà đi cùng.

Phần này chủ yếu nói về các phương pháp điều trị cho riêng ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào không nhỏ, do có sự khác biệt. Chi tiết về phương pháp điều trị sẽ được nêu trong phần điều trị.

UNG THƯ TẾ BÀO NHỎ

Hoá trị  là phương pháp chính để điều trị ung thư tế bào nhỏ. Hoá trị giúp nhiều bệnh nhân kéo dài sự sống và kiểm soát các triệu chứng bệnh tốt hơn. Hoá trị có thể được thực hiện riêng lẻ, hoặc trước khi xạ trị. Điều trị phối hợp hoá trị và xạ trị gọi là hoá xạ trị.

Phẫu thuật  không thường được áp dụng để điều trị ung thư tế bào nhỏ, trừ trường hợp phát hiện bệnh từ rất sớm. Điều này v́ các tế bào ung thư thường đă lây lan sang các bộ phận khác trong cơ thể trước khi phát hiện bệnh, ngay cả khi không nh́n thấy được trên phim chụp.

Sau khi điều trị, bác sỹ có thể tiến hành các phương pháp chụp và kiểm tra như khi bạn chẩn đoán bệnh để theo dơi mức đáp ứng điều trị của tế bào ung thư. Có trường hợp hoá trị có tác dụng rất hiệu quả đối với bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ, bác sỹ sẽ tiến hành xạ trị cho phần năo (gọi là xạ trị năo dự pḥng) để giảm nguy cơ tế bào ung thư lây lan sang năo.

Đối với trường hợp ung thư giai đoạn sau, xạ trị cũng rất hữu hiệu trong việc giúp giảm nhẹ các triệu chứng bệnh như các cơn đau.

UNG THƯ TẾ BÀO KHÔNG NHỎ

Phẫu thuật có thể giúp cắt bỏ khối u ung thư phổi tế bào không nhỏ ở giai đoạn đầu (1 và 2). Nếu người bệnh có vấn đề khác về sức khoẻ hoặc không đủ sức để tiến hành phẫu thuật, có thể áp dụng xạ trị để điều trị khối u phổi. Có thể tiến hành hoá trị trước khi phẫu thuật và/hoặc xạ trị. Phương pháp này gọi là hoá trị hỗ trợ trước - neo-adjuvant chemotherapy. Cũng có thể tiến hành hoá trị sau khi phẫu thuật (hoá trị hỗ trợ - adjuvant chemotherapy) để giảm bớt nguy cơ ung thư tái phát.

Nếu ung thư phổi tế bào không nhỏ đă lây lan sang các mô sát phổi hoặc vào các hạch bạch huyết, có thể điều trị bằng:

   * Xạ trị
   * Xạ trị phối hợp hoá trị
   * Phẫu thuật.

Trường hợp ung thư phổi tế bào không nhỏ đă di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể hoặc làm tổn thương một hoặc nhiều thuỳ phổi, có thể dùng xạ trị để làm teo bớt khối u và giảm bớt các triệu chứng bệnh. Có thể điều trị bằng hoá trị trước hoặc sau khi xạ trị, phương pháp này đă giúp làm teo bớt khối u ở một số bệnh nhân.  Mục đích của các phương pháp này là giúp kiểm soát các triệu chứng bệnh và kéo dài cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho người bệnh. Phương pháp xạ trị cũng rất hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng như đau đớn.

CHUẨN Y PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Trước khi bạn tiến hành điều trị, bác sỹ sẽ giải thích mục đích của đợt điều trị cho bạn và thường sẽ yêu cầu bạn kư bản cam đoan đồng ư để nhân viên bệnh viện tiến hành điều trị cho bạn. Bác sỹ sẽ không được tiến hành bất cứ biện pháp điều trị nào mà không được phép của bạn, và trước khi kư bản cam đoan bạn cần nắm đầy đủ các thông tin về:

   * Loại và mức độ điều trị theo tư vấn của bác sỹ
   * Mặt lợi và bất lợi của phương pháp điều trị
   * Có hay không các phương pháp điều trị thay thế khác
   * Bất cứ nguy cơ rơ rệt hay ảnh hưởng phụ của phương pháp điều trị.

Nếu không hiểu bất cứ điều ǵ, hỏi ngay nhân viên y tế để được giải thích lại. Một số phương pháp điều trị ung thư rất phức tạp, do vậy việc bệnh nhân đề nghị được giải thích lại là việc thường gặp.

Sẽ là ư hay nếu bạn có bạn bè hoặc người thân cùng đến khi bác sỹ giải thích quá tŕnh điều trị, họ sẽ giúp bạn ghi nhớ đầy đủ hơn những thông tin đưa ra. Cũng có thể tốt hơn nêu bạn ghi lại danh sách các câu hỏi cần hỏi trước khi bạn tới gặp bác sỹ.

Bệnh nhân thường cảm thấy các nhân viên y tế quá bận rộn để trả lời các câu hỏi đưa ra, nhưng bạn cũng cần nắm rơ thông tin về tác động của phương pháp điều trị đối với bạn và các nhân viên y tế cần sẵn ḷng dành thời giờ giúp bạn giải đáp các câu hỏi.
Bạn cũng có thể đề nghị có thêm thời gian suy nghĩ trước khi quyết định có điều trị hay không nếu bạn chưa thể quyết định ngay khi bác sỹ mới giải thích lần đầu cho bạn. Bạn cũng có thể quyết định không điều trị, và nhân viên y tế sẽ giải thích cho bạn những vấn đề xảy ra nếu không điều trị. Bạn cần thông báo cho bác sỹ hoặc y tá chịu trách nhiệm ngay về quyết định của bạn để họ ghi vào y bạ. Bạn không cần nêu lư do không tiến hành điều trị, nhưng bạn nên cho nhân viên y tế biết sự lo ngại của bạn để họ có thể đưa ra lời khuyên tốt nhất cho bạn.

LỢI VÀ HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ


Nhiều bệnh nhân rất sợ việc tiến hành điều trị ung thư, đặc biệt do các tác dụng phụ gặp phải. Một số bệnh nhân khác thường hỏi việc ǵ sẽ xẩy ra nếu họ không điều trị.
Mặc dù hầu hết các phương pháp điều trị đều có tác dụng phụ, nhưng việc nắm rơ những ảnh hưởng này và các biện pháp ngày càng tiên tiến để giảm bớt hoặc tránh được các tác dụng này đă giúp hầu hết các phương pháp điều trị đều trở nên dễ dàng hơn. Việc điều trị có thể được chỉ định do nhiều lư do khác nhau và lợi ích tiềm năng rất khác nhau phụ thuộc vào từng trường hợp riêng lẻ. Đối với bệnh nhân giai đoạn đầu của ung thư phổi tế bào không nhỏ th́ việc phẫu thuật là nhằm mục tiêu chữa lành bệnh ung thư. Đôi khi bác sỹ sẽ chỉ định điều trị bổ sung  để tránh nguy cơ tái phát bệnh.
Nếu ung thư đă ở giai đoạn sau th́ việc điều trị chỉ là để kiềm chế bệnh, nhằm mục tiêu cải thiện các triệu chứng bệnh và cuộc sống tốt hơn cho người bệnh. Tuy nhiên, đối với một số người việc điều trị sẽ không đem lại kết quả và họ sẽ phải chịu các tác dụng phụ mà không được hưởng lợi ích ǵ từ việc điều trị.

Nếu bạn được chỉ định điều trị để chữa lành bệnh ung thư, sẽ không khó khăn cho việc quyết định. Tuy nhiên, nếu việc chữa lành là vô vọng và điều trị chỉ giúp kiểm soát căn bệnh trong một khoảng thời gian th́ việc đưa ra được quyết định sẽ rất khó khăn.
Việc đưa ra quyết định điều trị trong những t́nh huống này sẽ là rất khó khăn, và bạn có thể cần phải thảo luận chi tiết với bác sỹ. Nếu bạn chọn không điều trị, bạn vẫn có thể được chăm sóc hỗ trợ (giảm nhẹ), sử dụng các loại thuốc để kiểm soát các triệu chứng bệnh.

KIẾN BỔ SUNG
Thông thường các bác sỹ chuyên khoa về ung thư làm việc theo nhóm và họ sử dụng hệ thống hướng dẫn điều trị quốc gia để quyết định về phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bệnh nhân. Tuy vậy, bạn có thể vẫn cần tham khảo ư kiến chuyên môn khác. Bác sỹ chuyên khoa hoặc bác sỹ đa khoa có thể giới thiệu bạn với một bác sỹ chuyên khoa khác để xin ư kiến tham khảo nếu bạn thấy cần. Việc lấy thêm ư kiến tham khảo có thể làm chậm lại việc điều trị, do vậy bạn và bác sỹ của bạn phải rất  chắc chắn về việc cần thiết phải lấy thêm ư kiến này.

Khi đến nghe ư kiến của bác sỹ khác, nên có bạn hoặc người thân đi cùng, có sẵn danh mục các câu hỏi để đảm bảo các vấn đề bạn quan tâm được thảo luận trong buổi gặp.



Đa số bệnh nhân ung thư phổi lúc đầu đều ho khan hoặc ho có đờm, thường vào buổi sáng. Ho kéo dài, các thuốc chống viêm, trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bệnh nhân ung thư cũng thường bị đau ngực. Thường không có điểm đau rõ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.

Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đã di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, bệnh nhân còn bị khó nói hoặc nói giọng khàn do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ...

Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X-quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.

Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc có đờm kéo dài nên đến bệnh viện 4 tháng một lần để chiếu chụp phổi, lấy đờm, dịch phế quản làm xét nghiệm tế bào học (5-8% số người đi khám được phát hiện ung thư phổi sớm). Ở cả hai giới từ 40 tuổi trở lên, nếu có các dấu hiệu sút cân, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói hoặc khó nuốt thì cần đi khám và làm các xét nghiệm.

Về điều trị, tùy theo từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật (cắt phân thùy phổi, thùy phổi, thậm chí toàn bộ lá phổi có khối u, lấy bỏ hạch di căn nếu có) hoặc điều trị tia xạ (đơn thuần hay phối hợp) và dùng thuốc.

Cách phòng ngừa ung thư phổi là tạo môi trường sống sạch đẹp, bầu không khí trong lành; không hút thuốc lá, điều trị khỏi những bệnh của phế quản, phổi như viêm phế quản mạn, lao phổi. Ở tuổi 40 trở lên, nên đi khám bệnh, chụp X-quang phổi định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm.



Ung thư cổ tử Cung





Ung Thư Vú


I. Đại cương:
         Ung thư vú là loại Ung thư gây tử vong nhiều nhất ở phụ nữ. Hội ung thư Mỹ ước tính Ung thư vú chiếm 32% toàn bộ Ung thư mới và 18% số tử vong do Ung thư ở phụ nữ. Tỉ lệ bị Ung thư vú hàng năm ở Hoa kỳ tăng lên rất mạnh theo tuổi (5/100 000 ở tuổi 25 tăng lên 150/100 000 ở tuổi 50 và hơn 200/100 000 ở tuổi 75).
Tại Việt nam hiện vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng Ung thư vú đang  trở thành loại Ung thư đứng hàng đầu trong các loại Ung thư ở phụ nữ.




II. Nguyên nhân, bệnh sinh:
1. Nguyên nhân:
+ Đột biến Gen:
         Thường thấy đột biến ở Gen BRCA1 và Gen  p53 nằm trên Nhiễm sắc thể 17, Gen BRCA2 nằm trên Nhiễm sắc thể 13. Yếu tố gây đột biến Gen có thể là các Tia phóng xạ hay Virut.
+ Di truyền:
         Khoảng 18% Ung thư vú có yếu tố di truyền nhưng chỉ khoảng 5% là thực sự có yếu tố gia đình. Trong những gia đình này, nguy cơ bị Ung thư vú cả đời ở nữ  ít nhất là 50%.
+ Chế độ ăn và Hocmon:
         - Chế độ ăn nhiều mỡ và đường có tỉ lệ bị Ung thư vú cao hơn chế độ ăn ít đường và mỡ, đặc biệt là đối với lứa tuổi trẻ.
- Một số loại Hocmon như : Prolactin, Estrogen, Progestin (thường có trong các thuốc chống thai) khi dùng lâu dài có thể làm tăng nguy cơ Ung thư vú ở những phụ nữ trẻ.
2. Các yếu tố nguy cơ của Ung thư vú :
+ Các yếu tố có nguy cơ cao (làm tăng khả năng bị bệnh hơn 3 lần):
Tuổi trên 40; Đã bị Ung thư trước đây ở một bên vú; Ung thư vú gia đình; Tăng sản tuyến vú không điển hình; Không có con; Có thai lần đầu muộn (sau tuổi 31); Hội chứng Klinefelter; Bệnh phì đại tuyến vú ở nam giới; Tiền sử gia đình đã có nam giới bị Ung thư vú.
+ Các yếu tố nguy cơ trung bình (tăng khả năng bị bệnh 1,2-1,5 lần):
Bắt đầu có kinh nguyệt sớm; Mất kinh muộn; Uống nhiều Estrogens; Có tiền sử bị Ung thư buồng trứng, đáy tử cung hoặc đại tràng; Đái tháo đường; Dùng nhiều chất uống có cồn.
III. Mô bệnh học:
1. Phân loại mô bệnh học Ung thư vú theo tổ chức y tế thế giới:
a) Ung thư biểu mô tuyến tuyến vú:
         + Ung thư biểu mô tuyến không xâm nhập:
                  - Cacxinom nội ống tuyến ( intraductal carcinoma).
                  - Cacxinom thuỳ tuyến in situ (Lobular Carinoma in situ).
         + Ung thư biểu mô tuyến xâm nhập:
                  - Cacxinom ống tuyến xâm nhập (invasive ductal Carinoma).
                  - Cacxinom ống tuyến xâm nhập  chủ yếu thành phần nội ống.
                  - Cacxinom thuỳ tuyến xâm nhập (invasive lobular carcinoma).
                  - Cacxinom thể nhầy (mucinous carcinoma).
                  - Cacxinom thể tuỷ (medullary carcinoma).
                  - Cacxinom thể nhú (papillary carcinoma).
                  - Cacxinom thể trụ (tubular carcinoma).
                  - Cacxinom thể nang dạng tuyến (adenoid cystic carcinoma).
                  - Cacxinom  thể bài tiết tuổi thiếu niên (secretory (juvenile) carcinoma).
                  - Cacxinom thể tiết rụng đầu (Apocrine carcinoma).
                  - Cacxinom có tình trạng dị sản (carcinoma with metaplasia)
                            * Cacxinom dạng tế bào vẩy (squamous)
                            * Cacxinom dạng tế bào hình thoi (spindle)
                            * Cacxinom dạng tế bào xương và sụn.
                            * Cacxinom dạng các tế bào hỗn hợp.
                  - Các loại Ung thư biểu mô tuyến xâm nhập khác.
         + Bệnh Paget ở núm vú.
b) Ung thư hỗn hợp tổ chức biểu mô và tổ chức liên kết tuyến vú:
         + Ung thư  dạng tế bào lá (Cystosarcoma phylloides)
+ Caxinosacom tuyến vú (carcinosarcoma).
c) Các loại Ung thư khác (không phải của biểu mô tuyến vú):
         + Angiosarcoma
         + Các loại Sacom khác của tổ chức mỡ, xơ, thần kinh...
2. Đặc điểm giải phẫu bệnh lý một số Ung thư tuyến vú:
+ Cacxinom ống tuyến:
Chiếm khoảng 78% số Ung thư vú. Thường chỉ bị một vú. Có thể gặp Cacxinom ống tuyến xâm nhập hoặc Cacxinom ống tuyến không xâm nhập.
+ Cacxinom thuỳ tuyến:
Chiếm khoảng 9% số Ung thư vú. Thường bị ở cả hai vú. Thường được phát hiện thấy ở mức in situ (có người coi loại này là tiền Ung thư).
+ Cacxinom thể tuỷ:
Chiếm khoảng 4% số Ung thư vú . Gồm các tế bào không biệt hoá và xâm nhiễm Lympho rất mạnh.
         + Các thể đặc biệt có tiên lượng tốt:
Chiếm khoảng 10% số Ung thư vú. Gồm các Cacxinom thể Nhú đơn thuần, Cacxinom thể trụ, Cacxinom thể nhầy...
+ Bệnh vú Paget:
Biểu hiện dưới dạng tổn thương Eczema của đầu núm vú một bên, thường đi kèm với Cacxinom ống tuyến ở phụ nữ.
IV. Triệu chứng lâm sàng :
         Triệu chứng lâm sàng của Ung thư tuyến vú rất đa dạng, khi có các triệu chứng điển hình thì thường đã ở giai đoạn muộn của bệnh.
1. Các triệu chứng tại tuyến vú :
a) Khối to lên ở vú :
         Là triệu chứng có ở 90% số bệnh nhân Ung thư vú. Có thể xác định được các tính chất sau :
         + Vị trí : thường bị ở một vú nhưng có khi bị cả hai vú.
+ Các biến đổi ở da vùng có khối U:
- Dấu hiệu da trên khối U bị lõm xuống vì dính vào khối U: nhìn rõ khi cho bệnh nhân dang thẳng cánh tay bên có U ra và nhìn dưới ánh sáng tốt.
- Dấu hiệu da kiểu “vỏ cam”: nhìn rõ một mảng da bị phù nề, đổi màu đỏ xẫm và có những điểm bị lõm sâu xuống ở chỗ chân lông.
- Những trường hợp đến muộn có thể thấy da trên khối U đã bị loét ra, chảy máu, bội nhiễm...
         + Mật độ : thường chắc hoặc cứng.
+ Bề mặt : thường lồi lõm không đều.
+ Ranh giới : thường không rõ ràng vì tình trạng xâm nhiễm của U vào các tổ chức xung quanh.
+ Kích thước : to nhỏ tuỳ từng trường hợp.
+ Di động kém : do dính nhiều vào tổ chức xung quanh, nhất là da và cơ ngực lớn.
+ Thường không đau.
+ Cần chú ý là có loại Cacxinom tuyến vú biểu hiện giống như một viêm tuyến vú: da trên tuyến vú phù nề, đỏ, nhiễm cứng, đau...
b) Những biến đổi ở núm vú:
+ Chảy dịch đầu núm vú :
Chảy dịch đầu núm vú tự phát có thể gặp ở khoảng 20% số phụ nữ Ung thư vú. Trong các trường hợp này dịch núm vú có thể là : dịch nước trong, máu, dịch  thanh tơ lẫn máu, dịch thanh tơ...
+ Đầu núm vú co vẹo hoặc tụt sâu vào trong: do khối U xâm nhiễm và kéo rút các ống tuyến sữa về phía U.
+ Trong thể bệnh Cacxinom Paget: vùng núm vú thường có biểu hiện như một tổn thương Eczema của núm vú.
2. Hạch nách:
Hạch nách cùng bên to ra chứng tỏ đã có di căn Ung thư tới phạm vi khu vực. Cần xác định các tính chất của hạch nách về: số lượng, độ lớn, mật độ, tình trạng dính của hạch vào nhau và vào tổ chức xung quanh...
Chú ý khám cả hạch nách bên đối diện để xác định di căn xa.




V. Triệu chứng cận lâm sàng:
1. Sinh thiết chẩn đoán:
a) Với các khối U có thể sờ thấy rõ ràng:
+ Sinh thiết hút tế bào bằng kim nhỏ (Fine-needle aspiration biopsy):
         Là một xét nghiệm có thể thực hiện nhanh chóng và an toàn, có độ nhậy đạt tới 90-98% (phụ thuộc chủ yếu vào kỹ năng và kinh nghiệm của xét nghiệm viên).
         Bệnh phẩm được đưa đi xét nghiệm tế bào học và có thể được dùng để xác định các thụ cảm thể Estrogen và Progesterone bằng kỹ thuật hoá tế bào miễn dịch.
+ Sinh thiết lõi ( Core biopsy ):
         Dùng kim Tru-Cut (Baxter) để lấy ra một phần tổ chức khối U. Bệnh phẩm đưa đi xét nghiệm mô bệnh học và xác định các thụ cảm thể Estrogen và Progesterone.
+ Mổ sinh thiết một phần khối U (Incisional biopsy):
         Thường rạch da theo đường Langer (đường rạch cong, đi sát và song song với quầng núm vú). Bóc tách và cắt lấy một phần khối U đưa đi làm xét nghiệm.
Chỉ định khi muốn đánh giá một khối U vú lớn nghi ngờ là ác tính mà sinh thiết hút kim nhỏ hoặc sinh thiết lõi không xác định được chẩn đoán
+ Mổ cắt khối U sinh thiết (Excisional biopsy):
         Mổ bóc tách lấy khối U để đưa đi xét nghiệm.
b) Với các U không sờ thấy được rõ ràng:
+ Sinh thiết có định vị bằng kim (Needle localized biopsy):
         Dưới hướng dẫn của chụp vú, chọc kim kèm dụng cụ có dây móc đặc biệt vào tuyến vú nơi tiếp giáp với chỗ bệnh lý để định vị chỗ cần sinh thiết. Sau đó tiến hành mổ sinh thiết khối bệnh lý đúng chỗ đã được định vị.
+ Sinh thiết lõi bằng kim có định vị ba chiều (Stereotactic core needle biopsy):
         Sử dụng bộ định vị ba chiều bằng máy tính điện tử để định vị tổn thương, tiếp đó dùng dụng cụ bắn tự động xuyên một lúc nhiều kim sinh thiết lõi vào vùng tổn thương để lấy bệnh phẩm.
2. Chụp vú (Mammography):
Có thể phát hiện được 85% Ung thư vú, kể cả các U chưa sờ thấy trên lâm sàng. Những dấu hiệu có thể gặp trên phim chụp vú trong Ung thư vú là:
+ Các vết lắng đọng Canxi.
+ Hình các ống tuyến vú bị xoắn vặn hoặc không cân đối.
+ Da vùng tuyến vú và núm vú dày lên
+ Hình khối đặc tuyến vú.
3. Chụp siêu âm tuyến vú:
         Có thể dùng phối hợp với Chụp vú để chẩn đoán phân biệt U vú là một khối U đặc hay U nang.
4. Chụp CT tuyến vú:
         Thường để theo dõi tình trạng các hạch vú trong, lồng ngực và vùng nách sau khi mổ cắt tuyến vú.
5. Chụp MRI tuyến vú:
         Có thể dùng khi các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác không cho kết quả rõ nét.
6. Chụp nhiệt tuyến vú:
         Dựa trên sự phân bố nhiệt khác nhau của tổ chức vú bình thường và Ung thư để ghi lại hình ảnh nhiệt của Ung thư vú. Hiện nay ít dùng do hiệu quả chẩn đoán không cao.
VI. Các thể lâm sàng:
         Do biểu hiện lâm sàng của Ung thư vú rất đa dạng nên các thể lâm sàng của Ung thư vú cũng rất phức tạp.
1. Ung thư vú dạng U đặc đơn độc:
         Đây là loại hay gặp. Triệu chứng thường tương đối điển hình.
2. Ung thư vú dạng U nang:
         Khối U có thể dưới dạng một nang đơn độc, ranh giới rõ. Chọc hút nang có thể thấy dịch lẫn máu.
3. Ung thư vú dạng viêm:
         Biểu hiện giống như một viêm cấp ở tuyến vú: sưng nề, đỏ… tiến triển nhanh.
4. Ung thư vú dạng não:
         U phát triển nhanh gây hoại tử tổ chức tuyến vú giống như chất não.
5. Ung thư vú dạng xơ cứng:
         Tuyến vú ung thư phát triển tổ chức xơ hoá rất mạnh, teo quắt lại, dính chặt vào da và thành ngực. Có khi tạo thành một mảng nhiễm cứng rộng bó chặt lấy lồng ngực.
6. Ung thư vú ở Nam giới:
Chiếm khoảng 0,5-1% số Ung thư vú nói chung, thường ở người già.
7. Ung thư vú ở phụ nữ có thai:
Khoảng 2% số bệnh nhân Ung thư vú được chẩn đoán ra khi bệnh nhân đang mang thai
VII. Phân chia giai đoạn Ung thư vú theo hệ thống TNM:
         Phân chia giai đoạn Ung thư vú theo hệ thống TNM của Hiệp hội quốc tế chống Ung thư (International Union Against Cancer: UICC) năm 1992 như sau:
1. Hệ thống phân chia TNM trên lâm sàng:
         + Khối U nguyên phát ( T ):
                  - Tx    Không thể xác định được khối U
                  - T0    Không có khối U
                  - Tis   Cacxinom in situ (cacxinom nội ống tuyến, cacxinom thuỳ
tuyến in situ, bệnh Paget ở núm vú không có U)
                  - T1    U có đường kính lớn nhất  <  2 cm
                        * T1a    U có đường kính lớn nhất < 0,5 cm
                        * T1b    U có đường kính lớn nhất > 0,5 cm và < 1 cm
                        * T1c    U có đường kính lớn nhất > 1 cm và < 2 cm
                  - T2    U có đường kính lớn nhất > 2 cm và < 5 cm
                  - T3    U có đường kính lớn nhất > 5 cm
                  - T4    U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm nhiễm vào thành
ngực hoặc da
                        * T4a    U đã xâm nhiễm vào thành ngực
                        * T4b    U xâm nhiễm da gây phù nề da (có dấu hiệu da kiểu
“vỏ cam“), loét da hoặc có các khối cục nhỏ ở da
gắn chặt với tuyến vú.
                         * T4c   U có cả T4a và T4b
                         * T4d   Cacxinom tuyến vú thể viêm
         + Hạch bạch huyết khu vực ( N ):
                  - Nx    Không thể xác định được hạch khu vực
                  - N0   Không có di căn hạch khu vực
                  - N1   Đã di căn hạch nách cùng bên và hạch còn di động
                         * N1a    Chỉ di căn vi thể (hạch < 0,2 cm)
                         * N1b    Hạch nách di căn có kích thước > 0,2 cm
                              . N1bi      Có 1-3 hạch di căn, các hạch có đường kính lớn
                                             nhất > 0,2 cm và < 2 cm
                              . N1bii     Có > 4 hạch di căn, các hạch có đường kính
       lớn nhất > 0,2 cm và < 2 cm
                              . N1biii    Hạch di căn có đường kính < 2 cm nhưng
       tổn thương đã vượt ra khỏi bao của hạch.
                              . N1biv     Hạch di căn có đường kính lớn nhất > 2 cm
                  - N2   Đã di căn hạch nách cùng bên, các hạch này đã dính vào nhau
và vào các tổ chức xung quanh.
                  - N3   Đã di căn vào các hạch vú trong cùng bên
         + Di căn xa ( M ):
                  - Mx   Không thể xác định được có di căn xa
                  - M0   Không có di căn xa
                  - M1   Đã có di căn xa (kể cả di căn hạch trên đòn cùng bên)
2. Phân chia giai đoạn Ung thư vú theo hệ thống TNM:
         + Giai đoạn 0                   Tis               N0               M0
         + Giai đoạn I                   T1               N0               M0
         + Giai đoạn IIA                T0               N1               M0
                                               T1               N1               M0
                                               T2               N0               M0
         + Giai đoạn IIB                T2               N1               M0
                                               T3               N0               M0
         + Giai đoạn IIIA               T0               N2               M0
                                               T1               N2               M0
                                               T2               N2               M0
                                               T3               N1               M0
                                               T3               N2               M0
         + Giai đoạn IIIB               T4               Mọi N M0
                                               Mọi T           N3               M0
         + Giai đoạn IV                 Mọi T           Mọi N M1
VIII. Chẩn đoán phân biệt:
1. Các bệnh lý dưới dạng một khối to lên ở vú:
+ Khối cục tổ chức biểu mô tuyến vú do nội tiết (Lump)
+ Các U lành tính của tổ chức biểu mô hoặc tổ chức liên kết của tuyến vú: U nhú nội ống tuyến, U tuyến của núm vú, U tuyến thể trụ, U tuyến tiết sữa, U xơ tuyến, U tổ chức phần mềm tuyến vú, U tổ chức da tuyến vú, U mạch máu, U bạch mạch…
+ Các bệnh vú xơ nang và loạn sản.
+ Các tổn thương dạng u ở tuyến vú: giãn ống tuyến sữa, khối viêm giả u tuyến vú, hoại tử mỡ sau chấn thương, viêm hạch bạch huyết, phì đại tuyến vú Nam giới…
2. Các bệnh lý có chảy dịch núm vú:
+ U nhú nội ống tuyến
+ U nang tuyến sữa; Giãn ống tuyến sữa…
3. Các bệnh lý có biến đổi da và núm vú:
+ Viêm tuyến vú; Apxe tuyến vú…
+ Bệnh Mondor: viêm nghẽn tĩnh mạch nông vùng tuyến vú
IX. Dự phòng và phát hiện sớm:
1. Tự kiểm tra tuyến vú:
+ Hàng tháng đối với tất cả phụ nữ trên 20 tuổi.
+ Những phụ nữ tiền mãn kinh nên thực hiện kiểm tra 5 ngày sau ngày kết thúc của một chu kỳ kinh.
+ Những phụ nữ sau mãn kinh nên tự kiểm tra mình cũng vào những ngày như vậy mỗi tháng.
2. Đến khám lâm sàng tại cơ sở có bác sĩ:
+ Ba năm một lần cho các phụ nữ lứa tuổi 20-40.
+ Mỗi năm một lần cho các phụ nữ trên 40 tuổi.
3. Chụp vú:
+ Các phụ nữ 35-39 tuổi cần phải được chụp vú kiểm tra để làm số liệu cơ sở theo dõi sau này.
+ Các phụ nữ 40-49 tuổi cần được chụp vú 1-2 năm một lần.
+ Các phụ nữ trên 50 tuổi cần được chụp vú mỗi năm một lần.
4 Cắt tuyến vú dự phòng:
Có thể chỉ định cho các trường hợp sau :
+ Các bệnh nhân có bệnh vú lành tính và có tiền sử gia đình bị Ung thư vú hai bên tuổi tiền mãn kinh.
+ Bệnh nhân đã có tiền sử bị Ung thư vú và hiện nay đang có bệnh xơ nang trong tuyến vú còn lại.
+ Các bệnh nhân bị Caxinom thể thuỳ in situ.
X. Điều trị:
1. Ung thư vú giai đoạn I và II (giai đoạn bệnh còn khư trú tại chỗ):
Trong giai đoạn này, biện pháp điều trị quan trọng hàng đầu là phẫu thuật, các biện pháp điều trị khác đóng vai trò bổ xung và củng cố.
a) Các phương pháp phẫu thuật:
+ Cắt tuyến vú triệt để:
- Tiến hành cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm các cơ ngực lớn và nhỏ, lấy bỏ toàn bộ hạch bạch huyết dọc theo tĩnh mạch nách lên đến dây chằng sườn đòn (dây chằng Halsted). Phẫu thuật này được Halsted đưa ra đầu tiên vào năm 1894 nên thường được gọi là phương pháp Halsted.
- Hiện nay ít dùng vì để lại khuyết hổng lớn ở thành ngực bệnh nhân và kết quả điều trị nói chung không khác các phương pháp cắt tuyến vú triệt để cải biên.
+ Cắt tuyến vú triệt để cải biên:
         - Tiến hành cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm lấy bỏ hạch nách thành một khối, không cắt bỏ cơ ngực lớn. Các phương pháp hay dùng là:
                  * Phẫu thuật Patey: cắt bỏ toàn bộ tuyến vú, cắt bỏ cả cơ ngực bé để có thể lấy bỏ được các hạch nách ở cao trên đỉnh hố nách.
                  * Phẫu thuật Patey cải biên (Scanlon): cũng làm như phương pháp Patey nhưng không cắt bỏ cơ ngực bé mà chỉ bóc tách nó để có thể lấy bỏ các hạch nách ở cao và bảo tồn được dây thần kinh ngực bên (chi phối cơ ngực lớn).
                  * Phẫu thuật Auchincloss: thực hiện giống phương pháp Patey nhưng không cắt bỏ hay bóc tách cơ ngực bé để cố lấy bỏ các hạch nách ở cao.
- Hiện nay, đây là biện pháp phẫu thuật chuẩn đối với Ung thư vú ở giai đoạn bệnh còn khư trú. Lấy bỏ hạch nách vừa để điều trị vừa để chẩn đoán giai đoạn bệnh.
- Ưu điểm:
*  Là biện pháp đáng tin cậy và hiệu quả nhất để xử lý khối U tại chỗ và giải quyết triệt để nguy cơ phát triển các khối U nguyên phát mới.
* Nếu cần điều trị hoá chất bổ xung thì việc thực hiện nó sau điều trị phẫu thuật sẽ dễ hơn nhiều so với sau điều trị Chiếu xạ.
- Nhược điểm:
* Khuyết hổng về mặt thẩm mỹ.
* Có các biến chứng sau mổ: Phù bạch mạch, tổn thương dây thần kinh đám rối cánh tay...
+ Phẫu thuật cắt bỏ rộng tại chỗ kèm Chiếu xạ ngay sau mổ:
- Phẫu thuật cắt bỏ rộng tại chỗ còn gọi là phẫu thuật cắt một phần tuyến vú, phẫu thuật cắt thuỳ tuyến vú, phẫu thuật cắt khối U vú…Nội dung của phẫu thuật này là:
         * Cắt bỏ khối Ung thư cùng một phần tổ chức nhu mô tuyến vú lành xung quanh. Có thể cắt bỏ rộng ra 1-2 cm vào tổ chức lành quanh khối U kèm lấy bỏ cả tổ chức da nằm ngay trên khối U (phẫu thuật cắt một phần tuyến vú: quadrantectomy).
* Rạch một đường riêng để bóc tách lấy bỏ hạch nách.
- Chiếu xạ ngay sau mổ: thường dùng tia Gamma hiệu điện thế rất cao cho toàn bộ tuyến vú (khoảng 4500-5000 cGy bằng chùm tia điện tử hoặc ống phóng xạ Iridium192). Toàn bộ thời gian mổ và chiếu xạ ngay sau mổ là khoảng 6 tuần.
- Ưu điểm của phương pháp:
* Giữ được vẻ ngoài thẩm mỹ.
* Giữ lại được tuyến vú.
- Nhược điểm:
* Tổ chức tuyến vú còn lại có thể bị Ung thư tái phát hoặc phát triển Ung thư vú nguyên phát mới.
* Có các biến chứng do Chiếu xạ kéo dài như: ban đỏ da, loét, viêm xơ tuyến vú, gãy xương sườn, sinh Ung thư muộn, viêm phổi và viêm màng ngoài tim do tia xạ...
b) Điều trị bổ xung sau phẫu thuật:
Hầu hết các Cacxinom xâm nhiễm tuyến vú đều được coi là đã có “di căn vi thể” ở ngay thời điểm khởi đầu của việc điều trị. Do đó việc điều trị “bổ xung” phải được thực hiện ngay sau khi điều trị tại chỗ để có thể tác động tới các di căn vi thể còn lại.
+ Chiếu xạ:
- Sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt để cải biên thì việc Chiếu xạ bổ xung sau mổ nói chung không cần thiết, trừ các trường hợp có rất nhiều hạch nách di căn.
- Sau các phẫu thuật cắt bỏ rộng tại chỗ (cắt bỏ một phần tuyến vú) thì Chiếu xạ được coi là biện pháp bắt buộc đi kèm ngay sau mổ.
+ Hoá chất:
- Thường dùng các phác đồ phối hợp nhiều loại thuốc để có hiệu quả điều trị tốt hơn. Các phác đồ phối hợp thuốc hay dùng là:
         * CMF: Cyclophosphamide, Methotrexate,  5-fluorouracil
         * FAC: 5-fluorouracil, Adriamycin, Cyclophosphamide
         * CA: Cyclophosphamide, Adriamycin
- Thường dùng hoá chất điều trị bổ xung bắt đầu sau mổ 4 tuần và một đợt kéo dài khoảng 6 tháng.
+ Nội tiết:
- Các thuốc nội tiết thường được dùng là: Tamoxifen citrate (Nolvadex), Megestrol acetate (Megace), Aminoglutethimide (có tác dụng phá huỷ chức năng tuyến thượng thận), Estrogen (diethylstilbestrol),  Androgen (fluoxymesterone)...
- Việc chỉ định dùng thuốc Hocmon cần dựa vào xét nghiệm xác định thụ cảm thể Estrogen và Progestogene của tế bào Ung thư vú. Nói chung nếu các thụ cảm thể này dương tính thì điều trị bằng Hocmon sẽ có hiệu quả cao.
- Ngoài các thuốc Nội tiết nói trên, các biện pháp khác cũng có ý nghĩa điều trị nội tiết là:
         * Cắt bỏ buồng trứng: có hiệu quả điều trị rất tốt đối với những phụ nữ  tuổi trẻ.
         * Cắt bỏ Tuyến thượng thận hay cắt bỏ Tuyến yên.
+ Miễn dịch:
Có thể dùng các biện pháp điều trị miễn dịch như: tiêm chủng BCG, uống Levamisole… nhưng kết quả không rõ ràng.
+ Trong thực tế điều trị các biện pháp điều trị bổ xung nói trên luôn được sử dụng phối hợp với nhau, kết quả thu được cho thấy:
- Kết hợp điều trị Hoá chất và Nội tiết cho hiệu quả cao hơn dùng chúng đơn thuần.
- Điều trị hoá chất bằng các phác đồ kết hợp thuốc có hiệu quả cao hơn nhiều so với điều trị một loại thuốc đơn thuần.
2. Ung thư vú giai đoạn IIIA ( còn có thể phẫu thuật được):
Đường hướng chung là phải điều trị kết hợp:
+ Điều trị Chiếu xạ tại chỗ và khu vực để hạn chế bớt sự phát triển của khối U. Đồng thời dùng hoá chất để điều trị các di căn có thể có ở toàn thân. Sau đó tiến hành phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm bóc tách lấy bỏ hạch nách.
+ Sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng Chiếu xạ, Hoá chất, Nội tiết…
3. Ung thư vú giai đoạn IIIB (không còn khả năng phẫu thuật):
Đường hướng điều trị chung là:
+ Điều trị ngay từ đầu bằng hoá chất. Dùng phác đồ kết hợp thuốc CMF, CA hay FAC trong 3 hoặc 4 tháng.
+ Tiếp đó điều trị Chiếu xạ tại chỗ và khu vực, rồi tiến hành mổ cắt bỏ toàn bộ tuyến vú.
+ Cuối cùng lại tiếp tục điều trị toàn thân bằng Hoá chất (phác đồ phối hợp thuốc CMF hoặc FAC), Nội tiết (Tamoxifen...)…
4. Ung thư vú giai đoạn IV (giai đoạn di căn toàn thân):
         Thường điều trị ngay bằng Hoá chất hay Nội tiết .
a) Điều trị Nội tiết:
+ Phải dựa vào xét nghiệm xác định thụ cảm thể  Estrogen (ER) và Progesterone (PgR) trong tiêu bản bệnh phẩm U để chỉ định dùng các thuốc Nội tiết. Khi các thụ cảm thể này dương tính thì điều trị bằng Nội tiết mới có thể có hiệu quả cao.
+ Các thuốc Nội tiết hay dùng là:
- Tamoxifen citrate (Nolvadex), 20 mg/ một ngày: được dùng liên tục cho đến khi bệnh nhân bị tái phát trở lại.
- Megestrol acetate (Megace), 40 mg dùng 4 lần/ngày.
- Aminoglutethimide, 250 mg uống 4 lần/ngày: được dùng cho các bệnh nhân có đáp ứng nhưng sau đó lại kém đáp ứng với điều trị nội tiết. Thuốc tạo nên tình trạng cắt bỏ tuyến thượng thận bằng thuốc. Phải dùng Hydrocortisone để dự phòng rối loạn trục Tyến yên-Thượng thận. Thường dùng Hydrocortisone uống sáng, chiều và tối, mỗi lần uống 10 mg.
- Các thuốc khác:  Estrogen (diethylstilbestrol, 5 mg dùng 3 lần/ngày) hoặc Androgen (fluoxymesterone, 10 mg dùng 4 lần/ngày). Thường dùng cho các bệnh nhân có đáp ứng nhưng sau đó lại không đáp ứng với điều trị bằng Tamoxifen, Megestrol acetate, hay Aminoglutethimide.
+ Cắt bỏ buồng trứng:
- Chỉ định dùng cho các bệnh nhân nữ dưới 50 tuổi, bị Ung thư vú tái phát với thụ cảm thể Estrogen dương tính. Có tác dụng cải thiện rõ rệt thời gian sống thêm và giảm tỉ lệ tái phát trên những bệnh nhân này.
- Có thể cắt bỏ buồng trứng trực tiếp bằng phẫu thuật, bằng chiếu xạ hoặc dùng thuốc (Leuprolide, Zolodex).
+ Mổ cắt bỏ Tuyến thượng thận hay cắt bỏ Tuyến yên: có thể gây ra những vấn đề khó khăn trong theo dõi và điều trị do đó chỉ định áp dụng rất hạn chế.
b) Điều trị Hoá chất:
         + Phác đồ CMF có hiệu quả tốt cho điều trị khởi đầu, nhất là khi kết hợp với Prednisone. Tỉ lệ đáp ứng là khoảng 60% với thời gian điều trị trung bình một năm hoặc hơn.
+ Các phác đồ kết hợp của CA và FAC cũng có hiệu quả rõ rệt.
+ Sau khi bệnh không đáp ứng với các phác đồ kết hợp thuốc nói trên nữa thì phải dùng đến các thuốc khác. Các thuốc có thể dùng cho bệnh nhân ở giai đoạn cuối là Taxol, Fluorouracil, Methotrexate, Vinblastine, Vincristine, Mitomycin C và  Prednisone.
c) Điều trị phẫu thuật :
         Trong giai đoạn này, phẫu thuật không đóng vai trò quan trọng. Trong một số trường hợp do khối Ung thư tại tuyến vú phát triển gây loét da, bội nhiễm... ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của bệnh nhân thì có thể chỉ định mổ để cắt bỏ và dọn sạch tạm thời các tổn thương tại chỗ đó.



Ung Thư Tuyến Giáp


I. Đại cương:
         Theo hiệp hội quốc tế chống ung thư (Inernational Union against Cancer: IUAC) thì Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại Ung thư. Tại các nước có bệnh Bướu cổ địa phương tỉ lệ này thường lớn hơn. Tần suất mắc bệnh chuẩn theo tuổi ở Nam là 3/100 000 dân/năm, trong khi ở nữ cao gấp 2-3 lần tỉ lệ đó. Theo số liệu của Bệnh viện K Hà nội,  Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 2% tổng số các Ung thư, trong đó tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 0,3/100 000 dân/năm.
         Phần lớn Ung thư tuyến giáp tiến triển âm thầm, triệu chứng lâm sàng ngèo nàn, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài. Bệnh nhân có thể sống 15-20 năm. Vì vậy, có thể nói rằng tiên lượng của đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp là tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.
II. Nguyên nhân và bệnh sinh:
         Còn nhiều điểm chưa rõ ràng nhưng các yếu tố có liên quan đến xuất hiện bệnh là:
         + Tuổi: có thể gặp Ung thư tuyến giáp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở lứa tuổi 7-20 và 40-65.
         + Giới: Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn Nam giới 2-3 lần.
         + Nơi sinh sống:
         - Tại những khu vực có bệnh Bướu cổ địa phương thì tỉ lệ mắc bệnh Ung thư tuyến giáp cao hơn các khu vực khác.
         - Bệnh nhân ở gần biển(ăn uống có đủ Iot) khi có Bướu giáp thể nhân thì nguy cơ bướu là ác tính cao hơn các vùng khác.
         - Tại những khu vực bị nhiễm xạ thì tỉ lệ mắc Ung thư tuyến giáp cao hơn các vùng khác.
         + Tiền sử đã có dùng tia xạ điều trị các bệnh lành tính khác ở vùng đầu mặt cổ thì khi có Bướu giáp nhân sẽ có nguy cơ cao bị ác tính.
         + Di truyền: Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường có tính chất gia đình. Đặc biệt, loại đa ung thư nội tiết tip II ( MEN II: Multiple endocrine neoplasia type II) có Ung thư tuyến giáp thể tuỷ kèm U tuỷ thượng thận  và có thể có U ở các tuyến nữa... đã  được xác định là có tính di truyền.
III. Giải phẫu bệnh:
         Theo tổ chức y tế thế giới, dựa vào mô bệnh học có thể phân chia Ung thư tuyến giáp ra 5 loại:
1. Ung thư biểu mô thể nhú:
Chiếm khoảng 60-70% các Ung thư tuyến giáp.
         + Đại thể: u thường là một khối đơn độc.
         + Vi thể: hình ảnh chiếm ưu thế là cấu trúc dạng nhú với lưới nội mô liên kết và mao mạch nâng đỡ. Đôi khi cũng thấy cấu trúc túi tuyến chiếm ưu thế.
2. Ung thư biểu mô thể nang:
         + Đại thể: có thể ở dạng một khối u nhỏ có vỏ bọc hoặc một khối u xâm lấn mạnh chiếm toàn bộ một thuỳ làm cho tuyến giáp to lên không đều.
         + Vi thể: có cấu trúc giống như trong nang tuyến đang hình thanh hay đã trưởng thành, nhưng có thể thấy các tế bào Hĩrthle hoặc các tế bào sáng ở từng vùng hay khắp khối u. Nếu u được cấu tạo hoàn toàn bởi các tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng thì được coi là một biến thể đặc hiệu của thể này, đó là ung thư biểu mô tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng. Có thể biệt hoá rõ hoặc loại biệt hoá Vita (còn gọi là Ung thư biểu mô bè).
3. Ung thư biểu mô thể tuỷ: phát sinh từ tế bào C của tuyến giáp.
         + Đại thể: có thể có một hoặc nhiều u ở cả hai thuỳ. U mềm hoặc có khi khá chắc, màu trắng xám hoặc vàng nâu. Có khi U bị hoại tử chảy máu và phá vỡ bao tuyến.
         + Vi thể: U cấu tạo bởi những tế bào tròn đa diện hoặc hình thoi, thường chứa chất dạng tinh bộ. Cấu trúc và chức năng của các tế bào u giống với tế bào C.
4. Ung thư biểu mô không biệt hoá:
         + Đại thể: thường là một khối u lớn ở vùng cổ vì bệnh tiến triển rất nhanh.
         + Vi thể: có 3 loại theo hình thái tế bào trong u, đó là loại u tế bào hình thoi,  u tế bào khổng lồ và u tế bào nhỏ.
5. Ung thư dạng biểu bì:
         Vi thể thấy trong cấu trúc u có các cầu sừng, các cầu nối hoặc chỉ có Keratin.
IV. Triệu chứng lâm sàng:
1. Đặc điểm chung:
         Đại đa số ung thư tuyến giáp đều tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy được ngay những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Cho đến khi xuất hiện những rối loạn tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn(gây khó thở và không ăn uống được), khối u hoại tử, bội nhiễm và loét thì tình trạng toàn thân mới sa sút nặng.
2. Các triệu chứng sớm:
         + Khối U: thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. U to ra dần, di động theo nhịp nuốt, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của tuyến giáp. Thường chỉ có một nhân đơn độc nhưng cũng có khi có nhiều nhân và nằm ở cả hai thuỳ tuyến giáp. Mật độ thường chắc. Bề mặt thường gồ ghề.
         + Hạch cổ: có khi U chưa sờ thấy được nhưng đã có hạch cổ to. Tuy nhiên, những triệu chứng sớm này khó phân biệt với một bướu lành tính, do đó khi có hạch cổ kèm theo khối U với những tính chất như trên thì luôn phải cảnh giác và tìm các biện pháp chẩn đoán xác định Ung thư sớm.
3. Các triệu chứng muộn:
         + Khối U: có khi khá lớn, lấn ra phía trước, ra sau, lên hai cực trên sát hai góc hàm và xuống dưới vào trong trung thất (khám lâm sàng không sờ thấy được cực dưới của U). Bề mặt thường gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc có chỗ mềm. Đặc biệt, khối U dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ và khả năng di động kém. Có khi khối U xâm nhiễm và loét sùi qua da vùng cổ, gây chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
         + Khàn tiếng, khó thở, khó nuốt, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối U phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở Ung thư thể không biệt hoá.
         + Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ: là triệu chứng thường gặp. Có khi cảm giác đau tức tại U lan lên góc hàm, mang tai cùng bên do U chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
         + Hạch to ở vùng cổ (dọc hai bên khí quản, theo các bờ trong, ngoài và sau hai cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn. . . ).
V. Triệu chứng cận lâm sàng:
1. Chụp X. quang:
         + Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng)không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
         + Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
2. Chụp xạ hình tuyến giáp:
         + Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
         + Trên xạ hình đồ các khối Ung thư tuyến giáp thường có hình “nhân lạnh”. Tuy nhiên hình ảnh này không đặc hiệu cho Ung thư vì các nhân nang tuyến giáp cũng có hình nhân lạnh (có thể kết hợp với chụp Siêu âm để chẩn đoán phân biệt).
3. Siêu âm tuyến giáp:
         + Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI):
         + Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước...của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu... của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: khí quản, thực quản, các mạch máu...        
5. Chẩn đoán tế bào học:
         + Chẩn đoán tế bào học khối U bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền. Với một xét nghiệm viên có kinh nghiệm thì độ chính xác của chẩn đoán có thể đạt tới 90 %.
         + Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
6. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
         Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuýên giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
7. Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U (Tumour marker):
         Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)...
VI. Chẩn đoán:
1. Chẩn đoán xác định: cần dựa vào
         + Nguyên nhân sinh bệnh: có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao (tuổi, giới, nơi ở, tiền sử. . . ).
         + Tính chất U và những rối loạn cục bộ do U gây ra: U rắn chắc, xâm nhiễm mạnh các cơ quan xung quanh, di động kém, nói khàn, đau tức lan lên vùng góc hàm cùng bên, loét da. . .
         + Kết quả chẩn đoán tế bào học và đặc biệt là xét nghiệm mô bệnh học khối U sau mổ cho giá trị chẩn đoán quyết định.
2. Chẩn đoán phân biệt:
         + Các viêm tuyến giáp không đặc hiệu (Hashimoto,  Riedel. . . ): thường xác định được bằng chẩn đoán tế bào học (sinh thiết hút kim nhỏ) và mô học sau mổ.
         + Bướu giáp thể nang biến chứng chảy máu trong nang: bướu giáp to ra nhanh, chắc cứng, đau và các biểu hiện chèn ép các cơ quan vùng cổ. Chọc hút khối U thấy có máu, không thấy tế bào Ung thư.
         + Viêm tuyến giáp đặc hiệu và Apxe tuyến giáp: tuyến giáp hay Bướu giáp to ra nhanh, đau, nóng, đỏ. Chọc hút sinh thiết không thấy có tế bào Ung thư mà là các tế bào viêm mủ. Điều trị kháng sinh có hiệu quả.
3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh:
         Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư (1994) có thể phân loại Ung thư tuyến giáp  dựa theo T (Tumor),  N (Node) và M (Metastasis) như sau:
         +T: U tuyến giáp nguyên phát
- Tx : U nguyên phát không ghi nhận được.
- T0 : không có U nguyên phát.
- T1: U có đường kính < 1 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến                   giáp.
                   - T2: U có đường kính 1-4 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến   giáp.
                   - T3: U có đường kính > 4 cm nhưng vẫn còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
                   - T4: U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp.
         + N: Hạch to vùng cổ
                  - Nx: hạch vùng cổ không khám thấy.
                  - N0: không có hạch di căn vùng cổ.
                  - N1: di căn một hạch cùng bên, kích thước < 3 cm.
                  - N2: hạch di căn có kích thước 3-6 cm.
                            .  N2a: di căn một hạch cùng bên.
                            .  N2b: di căn nhiều hạch cùng bên.
                            .  N2c: di căn hạch hai bên hoặc bên đối diện.
                  - N3: hạch di căn có kích thước > 6 cm.
         + M: Di căn xa
                  - Mx: di căn không phát hiện thấy.
                  - M0: không có di căn.
                  - M1: có di căn xa.
VII. Một số đặc điểm thể bệnh của Ung thư tuyến giáp:
1. Thể nhú (Papillom carcinoma):
         + Là thể Ung thư tuyến giáp hay gặp nhất (chiếm 70% các Ung thư tuyến giáp). Là thể có tiên lượng tốt nhất.
+ Thường gặp ở tuổi trẻ (hơn 80% số bệnh nhân là dưới 40 tuổi). Thường biểu hiện ban đầu là một khối U đơn độc nhỏ ở tuyến giáp nên ít khi phát hiện được sớm. Sau đó khi đã có di căn hạch cổ hoặc khi U to ra và gây các hiện tượng chèn ép vùng cổ thì bệnh nhân mới đến khám để điều trị. Thể này có thể di căn vào phổi, xương và các nơi khác trong khi khối U nguyên phát vẫn còn nhỏ.
         + Tỉ lệ sống sau mổ 10 năm có thể đạt tới 70-80% nếu được phẫu thuật sớm, triệt để và điều trị bổ sung sau mổ đầy đủ.
2. Thể nang (Vesiculary carcinoma):
         + Chiếm khoảng 20-25% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng là loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú.
+ Thường ở tuổi 50-60 và ở vùng có bướu cổ địa phương. U thường ở một thuỳ, ít có di căn hạch cổ nhưng ở giai đoạn cuối thường có di căn xa theo đường máu, đặc biệt là hay di căn đến tổ chức xương.
3. Thể tuỷ (Medullary Carcinoma):
         + U phát sinh từ các tế bào C (tế bào cận nang có vai trò tiết Canxitonin). Chiếm khoảng 5-10% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng thuộc loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú và thể nang.
+ Thường gặp ở tuổi 50-60. Bệnh có tính di truyền và thường mang tính chất Bệnh đa U nội tiết ( Multiple endocrine neoplasia: MEN ). Trên lâm sàng có thể gặp Hội chứng Sipple hay MEN IIA ( Ung thư tuyến giáp thể tuỷ, U tế bào sắc tố tuỷ thượng thận hai bên và U hoặc tăng sản tuyến cận giáp).
         + Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường nằm ở vị trí tiếp giáp 1/3 trên và 1/3 dưới thuỳ tuyến giáp (nơi tập trung nhiều tế bào C) và có thể ở cả hai thuỳ tuyến. Di căn theo đường máu hoặc bạch huyết.
4. Thể không biệt hoá:
         Chiếm khoảng 10% các Ung thư tuyến giáp, thường thấy ở các bệnh nhân nhiều tuổi. Đây là loại Ung thư tuyến giáp tiến triển nhanh nhất và tiên lượng xấu nhất, ít bệnh nhân sống quá 5 năm.
5. Ung thư biểu mô tuyến giáp thể biểu bì:
         Chỉ chiếm khoảng 1% các Ung thư tuyến giáp. Cần phân biệt với các ổ dị sản Malpighi trong U tuyến giáp lành tính hoặc di căn của một Ung thư biểu bì từ đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá trên vào tuyến giáp.
VIII. Điều trị ngoại khoa:
         Trong Ung thư tuyến giáp, điều trị ngoại khoa đóng vai trò cơ bản. Điều trị hoá chất và phóng xạ được xử dụng kết hợp trước mổ và bổ xung sau mổ hoặc để điều trị mang tính chất tạm thời khi bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật nữa.
1. Chỉ định các phương pháp phẫu thuật:
         + Cắt bỏ thuỳ có U kèm cả Eo tuyến và cắt gần hoàn toàn thuỳ bên đối diện: khi u có đường kính < 1 cm, chỉ nằm gọn hoàn toàn trong một thuỳ và là Ung thư thể nhú. Nếu có hạch to vùng cổ thì phải tiến hành mổ lấy bỏ hoàn toàn các hạch đó.
         + Cắt hoàn toàn tuyến giáp: khi U có đường kính > 3 cm và đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp. Sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ để tiêu diệt nốt tổ chức tuyến còn sót lại.
         + Trong mọi trường hợp đều phải mổ lấy triệt để các hạch di căn để hạn chế khả năng tái phát. Ngoài ra, sau mổ cắt toàn bộ tuyến giáp bệnh nhân thường được dùng Thyroxin kéo dài không những nhằm mục đích điều trị thay thế mà còn để làm giảm TSH trong máu, nhờ đó giảm được khả năng tái phát của bệnh.
2. Điều trị ngoại khoa một số thể Ung thư tuyến giáp:
         + Thể nang: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131  phóng xạ.
         + Thể tuỷ: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp vì U thường có ở cả hai thuỳ, chú ý điều trị tình trạng đa u nội tiết nếu có.
         + Thể không biệt hoá: nếu U còn nhỏ thì có thể mổ cắt hoàn toàn tuyến giáp. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đều đến muộn và U đã phát triển xâm lấn mạnh các cơ quan xung quanh, do đó nhiều khi phẫu thuật chỉ mang tính chất tạm thời và không triệt để (nhiều khi mổ chỉ với mục đích khai thông và duy trì đường thở cho bệnh nhân). Phải kết hợp điều trị bằng hoá chất, tia xạ...
         + Ung thư tuyến giáp đã có di căn: có thể dùng tia xạ và hoá chất điều trị chuẩn bị mổ, sau đó mổ cắt bỏ khối U và lấy hạch di căn càng triệt để càng tốt theo điều kiện cho phép, sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng tia xạ, hoá chất...
IX. Tiên lượng chung về Ung thư tuyến giáp:
         Tiên lượng về Ung thư tuyến giáp phụ thuộc vào: thể bệnh (loại mô bệnh học), giai đoạn bệnh (u xâm lấn phá vỡ vỏ bao tuyến thì tiên lượng xấu),  tuổi bệnh nhân (tuổi càng cao tiên lượng càng xấu),  giới (nam tiên lượng xấu hơn nữ). Nhìn chung tỉ lệ sống sau 5 năm tính theo thể bệnh thấy như sau:
         + Thể nhú: 80-90%
         + Thể nang: 50-70%
         + Thể tuỷ: 40%
         + Thể không biệt hoá: dưới 5%. 













DIỄN ĐÀN CHUNG Thông báo - Nội Quy Diễn Đàn Góp ý - Trợ giúp Tấm Lòng Vàng - Hoạt Động Từ Thiện Nhóm từ thiện Cầu Vồng Đọc báo giúp bạn CHUYÊN KHOA HỎI - ĐÁP - THẢO LUẬN Nội Khoa Nội Thần Kinh Nội Hô Hấp Nội Tiết Cơ - Xương - Khớp Nội Tim Mạch Nội Tiêu Hóa Tiểu đường - Những điều cần biết Ngoại Khoa Ngoại Niệu Ngoại Tổng Quát Ngoại Thần Kinh Ngoại Lồng Ngực - Mạch Máu Ngoại Tiêu Hóa Chấn Thương Chỉnh Hình Sản Phụ Khoa Nhi Khoa Nhiễm Nam Khoa Răng Hàm Mặt Tư Vấn Cắm Implant Cấp Cứu - Gây Mê - Hồi Sức - Chống Độc Dược Khoa Y Tá - Điều Dưỡng - Nữ Hộ Sinh Cận Lâm Sàng Chẩn Đoán Hình Ảnh Xét Nghiệm Tư Vấn Viêm Gan B Các Chuyên Khoa Khác Lao Tâm Thần Lão Khoa Da Liễu Huyết Học Ung Bướu Nhãn Khoa Tai - Mũi - Họng Thảo Luận Chung Y HỌC CỔ TRUYỀN Bài Thuốc Cổ Truyền Y Học Dân Gian Châm Cứu Cây Thuốc Nam Chữa Bệnh Không Dùng Thuốc CẨM NANG CHĂM SÓC SỨC KHỎE Mọi Người Cùng Khỏe Bác Sĩ Gia Đình Giáo Dục Giới Tính Thực Phẩm Và Dinh Dưỡng CẨM NANG LÀM ĐẸP Khỏe Đẹp Giảm Cân Tăng Cân Giữ Dáng Chăm Sóc Da Trang Điểm Dưỡng Da Chăm Sóc Tóc Thời Trang Tóc Dưỡng Tóc Giải Phẩu Thẩm Mỹ Bí Quyết Trẻ - Khỏe - Đẹp Tư Vấn Làm Đẹp MẸ VÀ BÉ Bà Mẹ Mang Thai Sự Phát Triển Của Bé Cùng Nuôi Dạy Bé Góc Của Bé Góc Của Mẹ Ảnh của Bé SỨC KHỎE & ĐỜI SỐNG Tình Yêu & Giới Tính Hôn Nhân Gia Đình Nghệ Thuật Sống Tâm sự - Cùng Thảo Luận GÓC Y KHOA Sinh Viên Ngành Y Sinh Viên Trong Nước Du Học Sinh Thông Tin Du Học - Học Bổng Cơ Hội Nghề Nghiệp Tài Liệu Tham Khảo Ngoại Ngữ Chuyên Ngành Nhật Ký Bác Sĩ GÓC THƯ GIÃN Thư Giãn - Giải Trí Giao Lưu - Tự Giới Thiệu RAO VẶT - VIỆC LÀM Việc Tìm Người Người Tìm Việc Thông Tin Nhà Thuốc - Bệnh Viện - Phòng Khám Dược Phẩm
_________________________________________________________________________ Tổng hợp tất cả, những các, thông tin tức hot nóng mới nhất, cập nhật, update, hôm hiện nay, kinh nghiệm, bí quyết, tại vì làm sao thế nào, là gì năm nay 2011 , video clip, hình ảnh, lý do, nguyên nhân, giải thích, tuyển tập,tut hướng dẫn, thủ thuật, cách hướng dẫn, phải làm gì khi, điều nên hay không, bài báo viết, câu chuyện, ebook, của thế giới, việt nam

0 comments:

Post a comment

Mọi comment thô tục không đúng mức sẽ bị xóa.

abc