Tổng hợp tất cả những các bài ca dao mới nhất thời hiện đại ngày nay sáng tác, vần điệu hay hài hước thú vị.thơ hò vè thành tục ngữ dân ca gian văn hóa Việt Nam, tìm hiểu bài viết báo truyền thống văn hóa là gì? chơi chữ câu đối đố tìm về thời Quê hương tuổi thơ ấu, cội nguồn, thế nào tại vì làm sao giải thích ý nghĩa là gì? hình ảnh video clip.



Ca dao, tục ngữ' thời hiện đại (Phần 4)

Nhà cao em cũng chẳng thèm. Chỉ cần vàng bạc cộng thêm hột xoàn. 


Áo anh sứt chỉ đường tà. 
Vứt làm nùi giẻ lau nhà cho xong.
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ.
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai.
Xa nàng nhớ cái bạt tai.
Giỡn chơi chút xíu bị hai cái liền.
Cô kia má đỏ hồng hồng.
Dừng chân anh hỏi có chồng hay chưa.
Có chồng năm ngoái năm xưa.
Chẳng may chồng bỏ nên chưa có chồng.
Cô kia chải tóc đuôi gà.
Dừng chân anh hỏi một và vài câu.
Tóc em là tóc trên đầu.
Hay là em mượn ở đâu gắn vào.
Gió đưa cành trúc la đà.
Tiếng chuông hết tiết, canh giờ chạy ra.
Mịt mù bóng của học sinh.
Chạy đi mua bánh, nhanh không hết giờ

'Ca dao, tục ngữ' thời kinh tế thị trường (Phần 1)

Những nhận xét vui đúc kết từ một số mặt tiêu cực ngoài cuộc sống.

Anh đi, anh nhớ quê nhà. Nhớ em mảnh đất giá ba tỉ đồng.
Hôm qua tát nước đầu đình. Bỏ quên di động chỗ mình... mất ngay.
Ba đồng một mớ trầu cay. Không bằng tình nghĩa một cây vàng mười.
Yêu nhau cởi áo cho nhau. Hôm sau: Em đã có bầu, anh ơi!
Không ham nhà cửa, bạc tiền. Chỉ ham anh có bố quyền chức to.
Nghèo nhân, nghèo nghĩa chẳng lo. Nghèo tiền, nghèo bạc mới cho là nghèo.
Chồng người áo gấm xông hương. Chồng em áo rách, em thương... chồng người.
Nhớ ai như nhớ láng giềng. Chỉ mong tắt lửa tối đèn... có nhau.

Ca dao, tục ngữ' thời kinh tế thị trường (Phần 2)


Khôn ba năm dại một giờ. Biết vậy dại sớm khỏi chờ ba năm.

Thương thay thân phận đàn bà.
Hơn 30 tuổi vẫn là đàn em.
Cái giường mà biết nói năng.
Thì ông hàng xóm hàm răng chẳng còn.
Miếng ngon giữa đàng.
Ai đàng hoàng là dại.
Qua cầu ngả nón trông cầu.
Cầu bao nhiêu nhịp tốn xăng dầu bấy nhiêu.
Nhà sạch thì mát.
Bát sạch hết cơm.
Ta về ta tắm ao ta.
Dù trong dù đục cũng là cái ao.
Con mèo mà trèo cây cau.
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
Chú chuột đi chợ đằng xa.
Em là cô chuột, vào nhà đi anh.




'Ca dao, tục ngữ' thời kinh tế thị trường (Phần 3)

Bầu ơi thương lấy bí cùng. Mai này có lúc nấu chung một nồi.

Yêu nhau mấy núi cũng leo.
Mấy sông cũng lội.
Nhưng nếu nghèo em bỏ đi
Còn thời cưỡi ngựa bắn cung.
Hết thời xuống chợ lượm thun bắn ruồi.
Hãy cứ chơi cho hết đời trai trẻ.
Để về già lặng lẽ đạp xích lô.
Đất lành chim đậu.
Đất không lành đất nhậu luôn chim.
Làm giàu không khó, nhưng khó ở chỗ làm mãi mà không giàu.
Râu tôm nấu với ruột bầu.
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.
Tội là tội nghiệp thằng con.
Ngồi ngoài dòm miệng biết ngon là gì.






CA DAO
Nói về ca dao là nói về thơ lục bát. 95 phần trăm ca dao đều làm bằng thơ lục bát. Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là dôi tay ôm chặt lấy. Gắn bó. Thơ lục bát rất dễ và rất khó làm. Người làm thơ lục bát hay thì đó là thơ lục bát. Người làm thơ lục bát dở thì đó là vè. Lục bát dễ biến thành vè lắm. Tôi đã nói Nguyễn Du đẩy thơ lục bát đến chỗ cao sang. Tôi nói thêm, Huy Cận đã đưa thơ lục bát vào cổ kính. Hai người làm thơ lục bát hay nhất. Sau hai người tài tử, chưa một thi sĩ nào làm thơ lục bát khiến ta khâm phục. Chúng ta đem Truyện Kiều ra so sánh với Lục Vân Tiên. Thấy ngay cái cao sang của Nguyễn Du và chất vè của Nguyễn đình Chiểu. Ca dao khác hẳn, chỉ là lục bát, không bao giờ là vè cả. Vì ca dao ngắn, 2 câu đến 10 câu là dài.
Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu. 
(Hai câu)
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Ðể anh trấn thủ nước non Cao Bằng
(Bốn câu)
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Cô về, sư ốm tuơng tư
Ốm lăn ốm lóc để sư trọc đầu
Muốn ăn đậu phụ tương dầu
Mài dao đánh kéo gọt đầu đi tu
(Sáu câu)
Văn chương phú lục chẳng hay
Trrở về làng cũ học cầy cho xong
Sáng ngày vác cuốc chăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sồng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết thóc ta lại mang tiền đi đong
Nữa mai luá tốt đầy đồng
Gặt về đập xẩy bõ công cấy cầy.
(Tám câu)
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc tháng ba hôị hè
Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Ðoan Ngọ trở về tháng năm
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng bẩy ngày rằm xá tội vong nhân
Tháng tám chơi đèn kéo quân
Bước sang tháng chín chung chân buôn hồng
Tháng mười buôn bấc bán bông
Tháng một tháng chạp nên công hoàn toàn
(Mười câu)
Ca dao nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tự của nó ôm gọn dân tộc trong lòng. Từ tình yêu, nỗi khổ cực, niềm lo lắng đến giáo dục về sự thật thà, chế nhạo tật xấu, bài xích nhẹ nhàng kẻ ác, khôi hài thống trị..., đều có trong ca dao. Nó là Việt Nam đôn hậu, chất phác. Ngày xưa, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng hơi thở của ca dao, chúng ta yêu nước chúng ta lắm. Ðiệu ru nào đã ru ta ngủ, vẫn không ngoài ca dao.
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Ngày nay, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng thứ khác. Không phải ca dao. Chúng ta bỏ quê hương - quê hương nông nghiệp - tìm chỗ thị thành mà ở, sống theo đuổi văn minh, vật chất tây phương. Chúng ta quên dần, quên hết ca dao. Một ngày nào đó, ca dao sẽ là cái gì kỳ cục mà chúng ta không thèm biết đến. Nếu chúng ta là nhà văn, nhà thi sĩ thì ca dao sẽ thành lạc hậu. cài trữ tình hôm qua đâu bằng cái trữ tình hôm nay. Chúng ta đọc tiểu thuyết Anh Mỹ, tiểu thuyết Pháp và, nếu cần, ta mượn cốt truyện của ngoại quốc làm cốt truyện của mình, có phải ta nghìn lần lãng mạn hơn ca dao vớ vẩn. Bây giờ, chúng ta mới, mới, mới và mới; chúng ta dứt khoát với quá khứ nó ràng buộc ta với quê hương ta. Tình tự dân tộc nó nhỏ bé quá, chúng ta tiến lên hàng vĩ đại tình tự với con người. Chúng ta định tình tự với thế giới, với con người bằng cái gì? Ở những cuốn tiểu thuyết gầy ốm, cóp nhặt tư tưởng của thiên hạ bừa bãi à? Cũng đuợc, loài người khó tính lắm, muốn đọc sách của chúng ta dịch sang tiếng nưóc ngoài thì họ mới hiểu chúng ta tình tự với họ với con người. Không, chúng ta không dại thế. Chúng ta chỉ thích mới, mới, mới và mới thôi. Chúng ta ra khỏi hàng ngũ những người lạc hậu và tình tự dân tộc. Mới mà không biết mới về đâu, đó là cuộc phiêu lưu không tưởng. Chúng ta chẳng hiểu đi tới bờ bến mới nào, có điều đường về quê hương đã bít lối.
Tôi không dám nhập vào cái chúng-ta-to-lớn quá. Vậy xin nhận cái tôi nhỏ bé, lạc hậu. Cái tôi nhỏ bé thách cái chúng-ta-to-lớn biểu diễn sáu câu ca dao "tán gái" sau đây:

Hôm qua tát nước dầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được cho chúng anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh không có mẹ già chưa khâu.
và bốn câu ca dao lãng mạn:
Lạy trời mưa nắng phải thì
Nơi thì cày rộng nơi thì bừa sâu
Công lao chảng quản lâu đâu
Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng
Người nông dân lạy trời nắng mưa hòa thuận để cầy bừa cho dễ dàng. Công lao không lâu đâu. Cứ hy vọng "ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng." Thi sĩ ca dao mới lãng mạn biết chừng nào: Nước bạc ngày nay, cơm vàng ngày sau. Tuyệt vời cách ví von như thế. Tôi nghĩ rằng thi sĩ bác học có nghĩ cả đời cũng không làm nổi câu thơ thứ tư của thi sĩ ca dao.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trròi yên biển lặng mới yên tấm lòng.
Nỗi đau khổ của nông dân kể lể đau lòng quá. Từ trong nỗi khổ vẫn bùng lên cơn mơ mộng "Trông cho chân cứng đá mềm"  tôi dám cam đoan rằng, trên thế giới, không có đại thi hào nào mơ mộng như người nông dân Việt Nam. "Trông cho chân cứng đá mềm" là giòng suối mơ mộng của thi sĩ ca dao. Giòng suối róc rách chảy đến vô tận. Chúng-ta-to-lớn thường mô tả cảnh bắt quân dịch và đầy ra mãi vùng I chiến thuật phục vụ. Những cảnh ấy, chúng-ta-to-lớn phải viết nhiều trang. ca dao có bốn câu, thưà xúc động.


Một tay thì cắp hoả mai
Một tay xách giáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa
Người quân dịch trấn thủ phương xa. Chúng-ta-to lớn sẽ nằm một chỗ, tuởng tượng sự cô đơn và nỗi thống khổ của người lính quân dịch hết một cuốn. Ca dao có bảy câu, bát ngát cô đơn.

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẳn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Nhũng giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nuớc giếng trong con cá nó vẫy vùng
Những đại văn hào, đại thi hào không thèm nghe ca dao nữa. Tôi xin lỗi các vị, nói chuyện ca dao với người khác. Trong cuốn Anthologie de la littérature populaire du Viet Nam, tác giả đã dịch một số ca dao. Thử mời các bạn thưởng ngoạn ca dao... Pháp văn:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vồn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây luá còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn 


Ô mon buffle! Viens dans la rixière et labourons
Labourons et repiquons
Comme nos ancêtres paysans
Ni toi, ni moi
N'épargnons notre peine
Tant que les pallntes ne portent les épis
Il y aura toujours
Quelques brins d'herbe dans le champ
Pour que tu les manges, ô mon buffles!

Lỗ muĩ em những tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Ðêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Ði chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo ăn quà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu
Dis huit poils rugueux
Lui sortent des narines
Le mari l'aime
Il dit:
-"C'est un présent du Ciel:
La barbe du dragon"!
Un ronflement, la nuit,
Morte avec son sommeil
Le mari l'aime
Il dit" Pourquoi s'en plaindre"?
S'en va-t-elle au marché
Elled grignote sans arrêt
Le mari l'aime
Il dit:
-"Qu'importe! A la maison
Elle mangera moins de riz".
Ses cheveus ne sont plus
Sue paille desséchée
Le mari l'aime
Il dit:
-"Sa tête est couronnée De fleurs au doux parfum!"
Tôi trích hai bài thôi và ở trong sách Anthologie de la littérature du Viet Nam không có bài ca dao tiếng Việt in kèm với bản dịch Pháp ngữ. Thành ra, người Việt Nam không hề biết ca dao mà đọc ca dao dịch sẽ chẳng thấy một hình ảnh nào lạ trong ca dao. Họ sẽ thất vọng ngay. Ngưòi ngoại quốc cũng thế. Nước ta ở một tình trạng nan giải. Quê hương nghèo nàn, nô lệ nhiều năm, nước nhỏ bé, ngôn ngữ ngoài phạm vi nước mình thì chả ai thèm biết tới, cho nên, những caí hay đẹp của ta như ca dao, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du ... , dịch sang ngoại ngữ găp nghiều trở ngại. Mà chính ra ca dao không thể dịch, không nên dịch. Chắc rằng, cũng biết gặp khó khăn nên ông Hữu Ngọc cứ dịch, vì lòng yêu nước của ông thúc dục ông.
Tôi xin thành thực hoan nghênh ông, nhưng cũng thành thực phản đối khi ông nhắm ca dao vào mục đích tuyên truyền. 17 bài ca dao ông dịch giới thiệu "Ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến". Ca dao là nghệ thuật. Nghệ thuật khác với kỹ thuật. Cách mạng tạo ra kỹ thuật cho con người, nhưng không thể, không bao giờ thể, tạo ra nghệ thuật cho con người. Trời cho con người nghệ thuật. Mọi sự rung động từ trái tim con người thoát ra. Cách mạng có làm cho con người rung động hay không, chứ không bắt con người phải rung động. Thi sĩ ca dao là nghệ sĩ đích thực. Nói thật đúng, thi sĩ ca dao của nguời là chính ca dao. Tôi sợ rằng ca dao "ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến" là ngụy ca dao.
Ca dao đã mất hút từ hơn 100 năm nay. Không phải các thi sĩ giết chết ca dao bằng những tập thơ ấn loát đẹp và phổ biến về tận làng mạc xa xôi. Chẳng ai giết nổi ca dao khi nó còn sống và cần sống. Chẳng ai cứu nổi ca dao khi nó muốn chết và cần chết. Ði một chu kỳ ngót bốn ngàn năm, ca dao đã sáng tác thừa thãi cho dân tộc sử dụng. Ðã đến lúc ca dao chất dứt bổn phận của nó. Văn học dân gian cũng thế. Cái tối cần thiết hôm nay là tìm tòi ca dao còn ẩn mặt tại nông thôn. Tôi chưa biết ca dao miền Trung. Tôi chưa biết ca dao miền Nam. Tôi chỉ biết rất ít ca dao miền Bắc. Bây giờ, nếu bỏ ra 5 năm, tung những người yêu ca dao đi khắp ba miền đất nước tìm kiếm ca dao, tôi tin rằng mỗi miền sẽ đóng góp cho đất nước hàng chục pho sách. Bấy giờ, chúng ta giàu có ca dao. Bấy giờ, không cần ai làm ca dao nữa. Tất cả đều có trong ca dao. Nói thêm nữa bằng thừa. Ca dao tự nó biến thành nền móng và khi nó cảm thấy nền móng vững chắc rồi, ta cứ việc xây văn chương bác học. Và tiểu thuyết, thi ca cứ vất lên cái nền móng đó. Hay thì ở lại. Dở thì ném đi. Ca dao đã biết trước chúng ta, đã ly biệt hơn 100 năm nay. Thế mà ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze cải táng ca dao, lôi xác chết bảo rằng "ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến". Hai cuộc kháng chiến là chống Pháp giữ nước và chống Mỹ cứu nước.
Cứ dở hết ca dao ra mà coi, 1000 năm nô lệ giặc Tàu, có câu nào nói về Tàu, nói về quân xâm lăng tàn ác nhất loài người không? Bảo là 1000 năm ấy không có kháng chiến ư? Hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Bố Cái Ðại vương ... đã khởi nghĩa đánh nòi Hán đấy. Sử gia Lê văn Hưu viết: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho dến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng"! Ðến 100 năm nô lệ Tây, ca dao cũng chẳng viết câu nào về quân xâm lược dã man. Bảo là 100 năm ấy không có kháng chiến ư? Chuyện 100 Tây đô hộ, ai cũng biét có kháng chiến hay không kháng chiến.
Cách mạng tháng 8-1945, tôi được đọc bài ngụy ca dao như thế này:

Ðeo hoa chỉ tổ nặng tai
Ðeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng
Làm thân một nước vẻ vang
Ðem vàng giúp nước giàu sang nào tầy
Ðổi vàng lấy súng cối say
Bắn tan giặc Pháp dựng ngày vinh quang
Ông thi sĩ thượng thặng nào đã đẻ ra bài ngụy ca dao quyên vàng của dân chúng cả nước để mua súng cối say bắn tan giặc Pháp, nhưng không mua, mà đem cống Tiêu Văn để nó mang quân Tàu phù về Trung Hoa? Cách mạng tháng 8 biết ông thi sĩ ấy. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở hậu phương, tôi đã thuộc những câu ngụy ca dao dưới đây:

Thực dân hỡi thỡi thực dân
Ðàng nào thì cũng một lần về thôi
Việt Nam của Việt Nam rồi
Cướp làm sao nổi đất người Việt Nam
Diễn tả cảnh dã man của Pháp, hai câu ngụy ca dao lên tiếng:
Trẻ thơ đã tội tình gì
Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân
Một bài nữa tả anh chồng trách vợ:
Ðêm nay anh đi đánh Tây
Cửa nhà cậy có bu mày trông coi
Làm sao khóc lóc lôi thôi
Có vợ ai tồi như thế hay không
Tôi nói ca dao đã biệt ly hơn 100 năm, kể tư khi thời đại đánh mốc bằng hai câu chua xót:
Ngày xưa ta cũng có vua
Bây giờ mất nước, bonjour Toàn Quyền
Nhưng không có gì tuyệt đối cả, cũng còn vài người tương tư ca dao, thỉnh thoảng thốt lên lời cay đắng. Câu ca dao cay đắng dưới đây làm trong cách mạng tháng 8 đã 15 tuổi:
Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương
Cách mạng dùng chế độ gạo cai trị dân còn hơn thực dân dùng roi điện tra tấn con người. Tôi rất thích bốn câu ca dao làm trong cách mạng tháng 9, đuợc 3 tuổi.
Việt Nam dân chủ cộng hòa
Con tôm con tép bò ra biểu tình
Con cá đi lính Việt Minh
Con cua cũng lại ra đình hoan hô
Chỉ có hai câu ca dao là chính ca dao rơi rớt lại. Còn thì rặt ngụy ca dao. Ca dao bay bổng, bay cao, bay xa trên vùng trời Việt Nam. Ca dao nói về tình ái, nói về hạnh phúc, nói về đau khổ, nói về thương yêu, nói về cười cợt, nói về nhân nghĩa... Ca dao không nói về thù hận. Những kẻ cướp nước ta đã có người đuổi chúng và diệt chúng. Ca dao không để ý việc này. Ca dao sống tự nhiên với hạnh phúc và đau khổ. Ca dao cao thượng vô cùng, không oán ghét cả kẻ thù của mình. Ca dao không khen ngợi ai. Không ai có quyền hành bắt ca dao khen mình, Thỉnh thoảng, ca dao mới lên tiếng về thống trị đi quá đà.
Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì ăn cướp quần chồng sao đang
Dân miền Bắc vốn không ưa gì Tự đức, cảm tình đã trao tặng Quang Trung rồi. Nghĩ đến chuyện đào mả Quang Trung, lấy đầu lâu đái vào, dân đã khinh bỉ Gia Long. Mà việc Tự Ðức cấm đàn bà mặc váy, ca dao chỉ nói nhẹ nhàng. Ca dao không tàn tệ với ai cả. "Ca dao mới" đem tên các lãnh tụ cộng sản ra chửi bới thậm tệ là ngụy ca dao. Ca dao không nịnh bợ người nào. Hai câu dưới đây thổi phồng ông Hồ Chí Minh:
Tháp Mưòi đep nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên bác Hồ

cũng là ngụy ca dao. Vậy thì ca dao "ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến" là ngụy ca dao, phải chăng, thưa ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze!

Tôi viết hơi dài rồi. Phải tìm mấy điệu ca dao làm kết luận bài này mới đuợc. À tốt lắm, tôi lôi con gà, con lợn, con chó, con mèo, con ngựa, con kiến, con tôm, con cua, con cá ra quần chúng nó một phen.
- Kiến tại sao mày kiện củ khoai?
- Vì nó còn sống, lại kềnh càng, cháu ăn không nổi tha về tổ không xong. Cháu tức quá đi kiện nó chơi.
- Củ khoai có nói gì không?
- Nó cứ ì ra. Cháu kiện hoài hủy.
- Mày đem việc không dáng gì đi kiện tụng. Mày ăn nó, nhưng không ăn nổi, lại bày trò kiện nó. Ðáng lẽ, nó phải kiện mày.

Con kiến mà kiện củ khoai
Kiện di kiện lại đã hai năm tròn
Bây giờ kiến đã có con
Củ khoai mọc mậm vẫn còn kiện nhau
- Ngựa, sao mày chăm làm vậy?
- Trời sinh cháu ra, bắt cháu làm việc, bác ạ.
- Mèo, sao mày lười thế?
- Trời sinh cháu ra, muốn cháu làm biếng đấy mà, bác ơi!

Con ngựa đi Bắc về Nam
Hay ăn hay ngủ hay làm hay lo
Con mèo nằm bếp co ro
Biếng ăn, biếng ngủ, biếng lo biếng làm
- Mèo kia, mày muốn dò xét chuột, chứ mày đâu tử tế gì mà hỏi thăm nó có nhà hay không?
- Bác đi guốc trong bụng cháu.
- Rồi sao?
- Nó giả vờ giọng ai rồi xỏ xiên bảo đi mua mắm, mua muối về giỗ cha cháu.

Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi dâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo
- Bống này, mày khỏi củ hành đuợc không?
- Ồ tôm có hành thì cháu cũng có hành nó mới dậy mùi.
- Còn cua thì sao?
- Nó phải giã bằng chày, bác ạ!

Cá bông đi chợ cầu Canh
Con tôm đi trước củ hành theo sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
- Gà, sao mày khóai lá chanh thế?
- Người sắp giết cháu, bác à. Cháu yêu cầu luộc cháu và cắt lá lá chanh thật nhỏ rắc lên
- Lợn, mày đòi hành chi vậy?
- Kho cháu mà có thiếu hành thì có ra gì! Thịt không hành, canh không mắm mờ lỵ.
- Chó, mày dặn dò gì không?
- Riềng là căn bản đã, bác ạ! Rồi mắm tôm sẽ tính sau. Hu, hu, hu...

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đúng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng
Thưa bạn đọc, đủ rồi đấy, câu chuyện ca dao.



Tục Ngữ Việt Nam
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định,có nhịp điệu,hình ảnh,thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt(Tự nhiên,lao động,sản xuất,xã hội),được nhân dân ta vận dụng vào đời sống,suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày đây là 1 thể loại văn học dân gian.
  
Tục Ngữ Việt Nam

A

  • Anh em như thể chân tay.
  • Anh em khinh trước làng nước khinh sau.
  • Ai biết ngứa đâu mà gãi.
  • Ai làm, nấy chịu
  • Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.
  • Ao sâu tốt cá.
  • Ăn chắc, mặc bền.
  • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.
  • Ăn cây nào rào cây ấy.
  • Ăn chọn nơi, chơi chọn bạn.
  • Ăn có nhai, nói phải nghĩ.
  • Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau.
  • Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa.
  • Ăn ngay nói thật, mọi sự điều lành.(?)
  • Ăn một miếng, tiếng một đời.
  • Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
  • Ăn tùy nơi, chơi tùy chốn.
  • Ăn cháo, đá bát.
  • Ăn theo thuở, ở theo thời
  • Ăn đầu sóng, nói đầu gió
  • Anh hùng tạo thời thế (???) -> Thời thế tạo anh hùng
  • Ăn cơm chúa, múa tối ngày
  • Ăn vóc, học hay
  • Ăn xem nồi, ngồi xem hướng

B

  • Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.
  • Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe

C

  • Cá không ăn muối cá ươn. Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  • Có chí, thì nên.
  • Có công mài sắt, có ngày nên kim.
  • Có qua, có lại mới toại lòng nhau.
  • Cha ăn mặn, con khát nước.
  • Của thiên trả địa.
  • Có chí làm quan, có gan làm giàu.
  • Có tiền mua tiên cũng đuợc.
  • Có thực mới vực được đạo.
  • Cây có cội, nước có nguồn
  • Cây lành sanh trái ngọt
  • Chứng nào, tật nấy
  • Cây cao, bóng mát
  • Cha mẹ sinh con trời sinh tính.
  • Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
  • Con sâu làm rầu nồi canh
  • Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh
  • Cứu vật vật trả ơn. Cứu nhân nhân trả oán
  • Có đức mặc sức mà ăn
  • Chim khôn chưa bắt đã bay
  • Chim khôn lựa cành mà đậu
  • Con hơn cha là nhà có phúc
  • Chết trong còn hơn sống đục
  • Chết vinh còn hơn sống nhục
  • Chết đứng còn hơn sống quỳ
  • Chờ được vạ thì má đã sưng
  • Cái răng,cái tóc là gốc con người
  • Con khôn, cha mẹ nào răng

D

  • Dao sắc không gọt được chuôi
  • Dân ngu, dể dạy
  • Dân đói dễ sai

Đ

  • Đường đi từ cửa miệng
  • Đa sự, đa đoan
  • Đa tình, đa hận
  • Đa sầu, đa mang
  • Đi một ngày đàng, học một sàng khôn...
  • Đói cho sạch, rách cho thơm.
  • Được voi, đòi tiên.
  • Đồng tiền liền khúc ruột
  • Đất lành, chim đậu
  • Đâm bị thóc, thọc bị gạo
  • Đi đến nơi, về đến chốn
  • Đàn gảy tai trâu
  • Đức năng thắng số.
  • Đi đâu rồi cũng về La Mã
  • Đi mô cũng nhớ về Hà Tịnh
  • Đầu tắt, mặt tối
  • Đừng dong buồm trong giông bão
  • Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.

G

  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
  • Giấy rách phai giữ lấy lề
  • Giàu đổi bạn, sang đổi vợ
  • Gieo gió thì gặt bão
  • Ghét của nào, trời trao của nấy
  • Gieo quả nào thì gặp quả đó
  • Gọi dạ bảo vâng

H

  • Học đi đôi với hành
  • Học đâu, biết đó
  • Học một biết mười
  • Học ăn, học nói, học gói, học mở.
  • Học tài, thi phận.
  • Hoc cho mai sau.
  • Hết xôi , rồi việc

K

  • Khôn chết, dại chết, giả chết không chết
  • Khôn nhà, dại chợ
  • Khôn ba năm dại một giờ
  • Kiến tha lâu đầy tổ
  • Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già
  • Khôn không qua lẽ, khỏe chẳng qua lời
  • Khi yêu trái ấu cũng tròn, khi ghét bồ hòn cũng méo
  • Không có lửa làm sao có khói
  • Kẻ cắp gặp bà già
  • Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm
  • Không thầy đố mày làm nên

L

  • Lá lành đùm lá rách.
  • Lời nói là bạc, im lặng là vàng.
  • Lời nói không mất tiền mua
    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
  • Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
  • Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén
  • Lùi một bước, tiến ngàn dặm
  • Liệu việc như thần
  • Liệu cơm gắp mắm
  • Lá rụng về cội
  • Lạy ông tôi ở bụi này
  • Lao động là vàng

M

  • Một người lo bằng kho người làm.
  • Ma đưa lối, quỷ dẫn đường
  • Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
  • Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
  • Máu chảy ruột mềm
  • Môi hở, răng lạnh
  • Một con chim én không làm nên mùa xuân
  • Một điều nhịn, chín điều lành
  • Một miếng khi đói bằng một gói khi no
  • Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.
  • Mật ngọt chết ruồi
  • Mũi dại, lái chịu đòn
  • Mềm nắn , rắn buông
  • Mềm quá thì yếu, cứng quá thì gãy
  • Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ
  • Mèo mả gà đồng
  • Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời
  • Một kho vàng không bằng một nang chữ
  • Mất lòng trước, được lòng sau

N

  • Nước chảy, đá mòn.
  • Nghèo sinh loạn, Giàu sinh tật.
  • Nước lã làm sao khuấy nên hồ
  • Nước chảy về nguồn, Lá rụng về cội
  • Nồi nào úp vung nấy
  • Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
  • No mất ngon, giận mất khôn
  • Nói có sách, mách có chứng
  • Năng làm, thì nên
  • Người sống đống vàng
  • Người ta là hoa đất
  • Nước đổ lá môn (khoai)
  • Nước chảy, hoa trôi , bèo dạt
  • Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã
  • Người khôn ít nói ít hay trả lời.
  • Ngồi mát ăn bát vàng
  • Nhà giầu đứt tay, bằng ăn mày đổ ruột
  • Nói một đàng, làm một nẻo. người không trung thực

O

  • Oan có đầu, nợ có chủ
  • Óan không giải được óan
  • Oán thù nên giải, không nên kết
  • Ông ăn chả, bà ăn nem.
  • Ông có chân giò, bà thò nậm rượu

Ơ

  • Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
  • Ở hiền thì gặp lành, ở ác gặp ác
  • Ở nhà nghe Đông Hà ló chín
  • Ở xó chuồn heo,hơn là theo phía vợ

P

  • Phép nước lệ làng.
  • Phép vua thua lệ làng.
  • Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Q
  • Quỷ tha, ma bắt
  • Quả báo, nhãn tiền
  • Quan nhất thời, dân vạn đại
  • Quýt làm cam chịu
  • Qua cầu rút ván
V
  • Vỏ quýt dày, móng tay nhọn
  • Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm
  • Việc người thì sáng, việc mình thì quáng
  • Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng
R
  • Rừng không hai cọp, nước không hai vua
  • Rừng nào cọp nấy.
  • Rau nào sâu nấy
S
Sinh nghề tử nghiệp
  • Sông có khúc, người có lúc
  • Sai một ly, đi một dặm
  • Sóng Trường Giang , lớp sau đè lớp trước
  • Sự thật mất lòng
  • Sang sông phải bắc cầu kiều,muốn con hay chữ phải yêu mến thầy
T
  • Thất bại là mẹ thành công
  • Thất bại là bà ngoại của thành công
  • Thời gian là vàng bạc
  • Thời gian không chờ ai cả
  • Thời gian đi, thời gian không trở lại
  • Tham bát bỏ mâm
  • Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ
  • Trăm hay không bằng tay quen
  • Trong chữ có nghĩa
  • Tre già, măng mọc
  • Thắng làm vua, thua làm giặc.
  • Tham thì thâm
  • Tham giàu, phụ khó. Tham sang, phụ bần
  • Thao Trường đổ mồ hôi. Xa trường bớt đổ máu
  • Trong họa có phước. Trong phước có họa
  • Thời thế tạo anh hùng
  • Tha lầm hơn giết lầm
  • Tình ngay, Lý gian
  • Tâm nhàn, thân nhàn
  • Tấc đất tấc vàng
  • Thuốc đắng dã tật, Sự thật mất lòng
  • Tích đức, phòng thân
  • Tích lũy, phòng cơ
  • Thật thà thì thiệt thòi
  • Tức nước, vỡ bờ
  • Thả mồi, bắt bóng
  • Tai vách mạch rừng
  • Thả hổ về rừng
  • Thánh nhân đãi kẻ khù khờ
  • Thừa nước đục thả câu
  • Trọng hiền, đãi sĩ
  • Trăm người bán, vạn người mua
  • Thành Rôma không xây trong một ngày
  • Tiên học lễ, Hậu học văn
  • Trong cái rủi có cái may
  • Thương nhau lắm,cắn nhau đau
  • Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
  • Trăm nghe không bằng một thấy
  • Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa
U
  • Uống nước nhớ nguồn
X
  • Xa mặt, cách lòng.
  • Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ
Y
  • Yêu cho roi,cho vọt,ghét cho ngọt,cho bùi
  • Yếu Trâu, ví thể mạnh Bò
  • Yêu nhau, mấy núi cũng leo,mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Video Clip



Các kết quả tìm kiếm liên quan đến ca dao












cac cau tuc ngu


















Nếu bạn thấy bài hay và có ích hãy nhấn +1 để cám ơn người viết nút +1 này nha, thank!



_________________________________________________________________________ Tổng hợp tất cả, những các, thông tin tức hot nóng mới nhất, cập nhật, update, hôm hiện nay, kinh nghiệm, bí quyết, tại vì làm sao thế nào, là gì năm nay 2011 , video clip, hình ảnh, lý do, nguyên nhân, giải thích, tuyển tập,tut hướng dẫn, thủ thuật, cách hướng dẫn, phải làm gì khi, điều nên hay không, bài báo viết, câu chuyện, ebook, của thế giới, việt nam

0 comments:

Post a comment

Mọi comment thô tục không đúng mức sẽ bị xóa.

abc